| |
Đi Như Một
Dòng Sông
Đường Xưa Mây Trắng
Hạt Giống Đi Xa
Làng Mai Vô Tướng
RUE DE LA GOUTLE D'OR
Sáu Cây Tùng Lọng
Sen Búp Từng Cánh Hé
Liên Hệ Thầy Trò
Đi như một dòng sông
Hồi tháng 5 năm 66, khi rời khỏi
Việt Nam tôi không nghĩ là sẽ đi lâu, nhưng rốt cuộc đã bị kẹt phải
ở lại. Thành ra tôi giống như một tế bào của một cơ thể bị văng
ra khỏi cơ thể, rất nguy hiểm. Như là một con ong bị tách biệt ra
khỏi đàn ong. Chúng ta biết rõ một con ong mà bị tách biệt ra khỏi
đàn không về được thì con ong đó sẽ khô, sẽ chết. Một tế bào mà
bị tách biệt ra khỏi cơ thể thì cũng sẽ khô, sẽ chết. Nhưng mà tôi
đã không khô, không chết là tại vì tôi đã đi qua xứ người không
phải với tư cách một cá nhân mà với tư cách một tăng thân, vì sự
nghiệp của tăng thân. Đi để kêu gọi hòa bình vì lúc đó những công
tác về văn hóa, giáo dục và xã hội ở Việt Nam rất lớn. Mình có Viện
Đại Học Vạn Hạnh, mình có trường Cao Đẳng Phật học, mình có nhà
xuất bản Lá Bối, mình có tạp chí Hải Triều Âm, mình có trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội đang làm việc khắp nơi trên đất nước và mình
có một phong trào tranh đấu cho hòa bình Việt Nam. Tôi đi với những
cái đó trong trái tim nên tôi không thể nào khô được. Nếu đi với
tính cách cá nhân, đi kiếm một ít địa vị, một ít danh lợi thì tôi
sẽ khô héo, nhưng vì mang theo được tăng thân cho nên qua bên này,
vấn đề sống chết là thành lập tăng thân. Vì vậy tôi đã thành lập
tăng thân với những người giúp mình vận động hòa bình. Những người
tới để giúp tôi, những ông mục sư, linh mục, giáo sư đại học, sinh
viên, học sinh, mình đã đến gặp họ, kết thân và mời họ đi vào con
đường phụng sự cho hòa bình. Trong khi tiếp xúc với những cá nhân,
những đoàn thể rất ưu tư về hòa bình và công bình xã hội, tôi thấy
họ có những khó khăn. Hoạt động một hồi thì họ cũng bị chia rẽ,
mỏi mệt và thối chí. Vì vậy đến với nhóm nào, với người nào tôi
cũng chia sẻ phương pháp thực tập của tôi. Vì thế trước khi mình
có tăng thân qui tụ về một chỗ thì mình đã có tăng thân như từng
yếu tố cá nhân ở khắp nơi rồi. Mục sư Kloppenburg ở Bremen bên Đức
là một người rất có cảm tình với tôi. Tuy là một vị mục sư Tin Lành
nhưng ông đã cổ động, tổ chức cho tôi đi diễn thuyết và kêu gọi
khắp nơi trên nước Đức và đã giúp tôi dịch và xuất bản cuốn Hoa
Sen Trong Biển Lửa bằng tiếng Đức. Ông cũng đã giúp phương tiện
tài chánh để tôi có thể gửi về yểm trợ cho trường Thanh Niên Phụng
Sự Xã Hội tiếp tục công tác và cũng đã giúp tôi tổ chức những hội
nghị hòa bình ở Paris. Trong văn phòng của ông có treo một tấm hình
của tôi. Ông không treo hình Chúa mà cũng không treo hình của bất
cứ ai. Điều đó chứng tỏ ông là một người bạn rất thân. Ở Hòa Lan
có mục sư Hannes de Graff của giáo hội Dutch Reform Church cũng
rất yểm trợ tôi. Trên bước đường đi vận động hòa bình cho Việt Nam
, tôi đã kết giao với rất nhiều bạn hữu trong giới tôn giáo, trong
giới nhân bản, và trong giới trẻ. Khi tôi thành lập Phái Đoàn Phật
Giáo Việt Nam tại Paris thì những người trẻ tới tình nguyện giúp
tôi nhiều lắm. Họ tới nhận làm không công thôi, bữa trưa thì mình
cho họ ăn sơ sài, sau bữa tối thì họ ở lại để ngồi thiền. Có người
về nhà ăn cơm rồi trở lại. Có người ở lại để ăn chiều sơ sơ với
mình rồi ngồi thiền, tối nào cũng ngồi thiền cả. Những người tới
giúp mình cũng biết thực tập thiền hành, biết ngồi thiền và biết
ca hát. Hồi đó mình chưa có những bài hát của Làng Mai như bây giờ
nên mình chỉ lựa chọn những bài hát nào lành mạnh, nhất là những
bài hát có tính cách tâm linh và nhân bản. Hồi đó những bài hát
như là By The River Side hay là Where have all the flowers gone?
, đã được hát rất nhiều, sau đó mới có mấy bài của Trịnh Công Sơn.
Hồi làm việc cho Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Paris,
mình tổ chức ngồi thiền cho thiền sinh Tây phương có mặt tại Paris
mỗi tuần một lần tại trụ sở của những người Quakers, Quaker Center
ở đường Vaugirard. Và những người trẻ tuổi, những thanh niên tới
văn phòng của phái đoàn thì thường thường được chỉ dạy cho cách
buông thư (deep relaxation) và ngồi thiền. Vì vậy hạt giống đã được
gieo rất nhiều và mỗi khi mình tổ chức Summer Opening mở cửa Làng
Mai thì nhiều người tới lắm. Từ một tế bào bị đánh văng ra khỏi
tăng thân ở quê hương mà tôi đã làm được một sinh hóa thân (cloning)
và không những tôi đã không khô như một con ong lìa tổ mà từ một
tế bào tôi đã trở thành một cơ thể. Cơ thể đó đã trở thành một tăng
thân như hôm nay ta thấy. Vì vậy điều quan trọng là mình phải đi
với một trái tim đầy ắp tăng thân thì mình mới không khô chết. Hôm
trước tôi có nói là nếu quý vị tới được Làng Mai rồi thì hãy đem
cả Làng Mai về nhà chứ đừng đem ít hơn. Đem Làng Mai về nhà thì
mình sẽ sống lâu hơn và mình biết rằng giáo lý và sự thực tập "đã
về đã tới" luôn luôn đi đôi với giáo lý "đi như một dòng
sông mà đừng đi như một giọt nước". Đi với tư cách của một
giọt nước thì nửa đường mình sẽ bốc hơi, còn đi với tư cách của
một dòng sông thì chắc chắn mình sẽ tới biển. Chưa bao giờ tôi đi
như một giọt nước cả, luôn luôn đi với dòng sông. Trong những năm
bị lưu lạc tại quê người chưa bao giờ tôi có cảm tưởng bị cắt đứt
với tăng thân ở Việt Nam. Năm nào cũng sáng tác, cũng gởi bản thảo
về. Và năm nào ở nhà cũng tìm cách để xuất bản sách của tôi. Đến
khi sách bị cấm in thì lại được chép tay hoặc in chui, hoặc in dưới
một bút hiệu khác. Ngay từ hồi phe quốc gia chống cọng còn nắm quyền
thì sách tôi cũng đã không được ký tên Nhất Hạnh rồi, phải ký bằng
hàng chục cái tên khác: B'Su Danglu, hay Thạc Đức, hay Tuệ Uyển,
hay Minh Hạnh, tại vì cái tên Nhất Hạnh đã bị kiểm duyệt - đó là
tên của một người đang kêu gọi hòa bình - Bên chính quyền cọng sản
cũng vậy. Sách của tôi được xuất bản dưới những tên khác nhưng rồi
độc giả cũng nhận ra được. Trong thời gian những người cọng sản
lên nắm chính quyền thì việc in chui rất khó. Vì vậy có phong trào
chép tay, chép tay nhiều quá đến nỗi cán bộ phải triệu tập dân chúng
lại để học tập là đừng có chép tay sách của ông nớ. Nhưng sau đó
thì từ từ phong trào in chui sách và sang chui băng của tôi trong
nước được đồng bào tự động phát động. Nhiều người cán bộ cũng có
cơ duyên được đọc sách và nghe băng giảng của tôi, có nhiều người
thích lắm. Bề ngoài họ làm ra vẻ muốn tịch thâu, làm khó làm dễ
nhưng có khi họ làm lơ, để cho mình có thể in chui hay phát hành
chui được.
Hồi mới thành lập ra Phái Đoàn
Phật Giáo Việt Nam tại Paris có rất nhiều khó khăn. Hồi đó trụ sở
thì nhỏ mà cư trú thì quá đông người. Đủ mọi thứ khó khăn: khó khăn
về giấy tờ cư trú, khó khăn về cơm áo. Có những bữa mà sư cô Chân
Không - trước đó là giáo sư trường đại học khoa học Sài Gòn - phải
đi xin ngủ nhờ ở một nhà hàng ăn vì không có chỗ ngủ. Đại chúng
thay vì mua gạo đàng hoàng thì mua tại các tiệm bán đồ ăn súc vật
(grainetterie) loại gạo tấm dành bán cho chim ăn vì gạo đó rẻ lắm,
gạo bể (broken rice). Có một bữa ông bán hàng hỏi mình: "Nhà
quý vị có nhiều chim lắm hả?" Vị mua gạo trả lời: "Nhiều
lắm, chín con, con nào con nấy to như thế này này" (giơ tay
làm hiệu). Nhưng cuộc sống rất vui. Tôi kiếm được một chỗ dạy học,
lương tháng khoảng 1,000 quan Pháp. Và những người khác cũng đi
kiếm công việc. Sư cô Chân Không đi dạy toán, kèm trẻ để có thêm
tiền. Phương Vân Am mình đã mua được với giá 35,000 quan Pháp, làm
chỗ nương tựa cho tăng thân hồi đó và thầy trò đã dụng công xây
dựng nó thành một trung tâm tu học. Phương Vân Am hiện nay vẫn còn,
mai này mình sẽ tổ chức một cuộc đi hành hương Phương Vân Am cho
vui. Nơi đó tôi đã viết được nhiều sách và làm được nhiều thơ. Phương
Vân Am ở bên rừng Othe rất đẹp và khí hậu lạnh hơn ở đây. Có một
thời gian tôi đi học nghề in. Hiện bây giờ tôi in sách và đóng sách
khá giỏi. In trong chánh niệm, đóng sách trong chánh niệm. Tôi đã
in hàng chục cuốn sách, đóng hàng chục ngàn cuốn sách. Hồi đó Lá
Bối chưa dời sang Mỹ. Bàn tay này (Thầy giơ tay phải lên) tuy làm
thơ được, viết thư pháp được, nhưng mà in sách và đóng sách cũng
được. Tại vì tôi đi học nghề đàng hoàng. Thầy trò đã sống một phần
trên tiền bán sách. Sư cô Chân Không đem bản thảo Phép Lạ Của Sự
Tỉnh Thức bằng tiếng Pháp đi bán cho nhiều nhà xuất bản. Không có
nhà nào mua cả. Có một nhà xuất bản nói rằng "Cuốn sách này
hay quá, nhưng ông này chưa ai biết tên, thành ra sợ in ra bán lỗ,
không dám mua." Đó là tình trạng hồi đó. Nhưng khi tôi đã nổi
tiếng bên Mỹ rồi thì các nhà xuất bản bên Pháp lại giành nhau để
mua.
Cho đến ngày hôm nay, có nhiều
vị trong tăng đoàn ngày xưa vẫn còn tiếp tục ngủ trong những cái
nóp gọi là túi ngủ (sleeping bag). Sư cô Chân Không cho đến ngày
hôm nay cũng vẫn còn ngủ trong túi ngủ. Còn tôi ở Làng Mai thì thường
ngủ trên một tấm ván ở dưới có kê bốn viên gạch và một tấm nệm mỏng.
Không phải vì vậy mà không có hạnh phúc. Mình không hề có ý muốn
xây dựng một cái chùa rất đẹp ở đây. Khi bán được bản quyền một
cuốn sách thì tiền đó mình thường dùng để cứu trợ trẻ em đói, cứu
trợ nạn nhân bão lụt. Trong thời gian làm việc tại Paris, Phái Đoàn
Phật Giáo Việt Nam đã vận động bảo trợ được trên 9,000 cô nhi do
chiến tranh Việt Nam tạo ra. Mình không yểm trợ việc thành lập những
cô nhi viện mà chỉ đi kiếm những gia đình của các ông chú, bà thím,
ông nội, bà ngoại của em bé để gởi em bé vào. Mình gởi về cho mỗi
gia đình ấy mỗi tháng 25 quan Pháp để cho em bé đó có đủ cơm ăn
và giấy bút đi học. Hồi đó tôi có nhiều công việc lắm, nhưng mỗi
ngày vẫn phải dịch hồ sơ cô nhi. Tôi được trao mỗi ngày 20 hồ sơ
cô nhi. Những hồ sơ cô nhi do tác viên xã hội của mình ở Việt Nam
thiết lập và gởi qua Paris. Trong hồ sơ có hình của em bé, tên cha,
tên mẹ, lý do tại sao cha chết, chết ở đâu... Mình phải dịch ra
tiếng Hòa Lan, tiếng Pháp, tiếng Đức để đi kiếm người bảo trợ. Những
người bảo trợ một em bé phải đóng 25 quan Pháp. Thường thường cách
làm việc của tôi là nâng hồ sơ cô nhi lên, nhìn vào mắt em bé và
thở. Thở được chừng ba, bốn hơi thì năng lượng từ bi trào lên, trái
tim mình đầy sự thương cảm và mình bắt đầu dịch. Mình dịch rất mau,
dịch rất dễ thương cũng vì đã có chất từ bi tuôn ra ngòi bút. Vì
vậy khi người ta đọc đơn xin bảo trợ, họ cho rất mau. Có một cô
thiền sinh người Hòa Lan gốc Đan Mạch đã giúp chương trình bảo trợ
cô nhi rất hăng hái đến nỗi cô đã đi học tiếng Việt. Tiếng Việt
cô đã đủ giỏi để cô có thể dịch được những hồ sơ cô nhi. Hồi đó
văn phòng của mình đầy những hồ sơ, hồ sơ cô nhi và hồ sơ Phật giáo
các tỉnh. Hiện bây giờ mình vẫn còn giữ đầy đủ tài liệu hồ sơ của
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ trung ương đến các tỉnh.
Chính ở đây mình có tài liệu nhiều nhất về Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất từ năm 1966 đến 1974 chứ không phải ở Việt Nam. Ngày
hôm qua Fei Fei hỏi tôi: "Thầy làm việc cực nhọc như vậy mà
đã gặt hái được kết quả thầy mong muốn chưa?" Tôi hỏi lại:
"Con muốn thầy gặt hái cái gì nữa? Mỗi giây phút của sự sống
của thầy đều là hạnh phúc, đều là sự gặt hái cả. Ví dụ như con đang
ngồi uống trà với thầy đây. Thầy trò ngồi với nhau như vậy đâu phải
là để phóng tâm tới một cái gì khác. Ngồi uống trà với nhau như
vậy là hạnh phúc rồi. Nói pháp thoại cũng là hạnh phúc, đi thiền
hành với các con cũng là hạnh phúc. Tổ chức khóa tu, làm nở được
những nụ cười trên môi các thiền sinh cũng là hạnh phúc. Con muốn
thầy gặt hái cái gì nữa?" Công việc của mình phải là hạnh phúc,
và giáo pháp của mình là "hiện pháp lạc trú". Mỗi bài
thuyết pháp của tôi phải phản chiếu được pháp ấn của Làng Mai là
"đã về đã tới".
Nói chuyện về Làng Mai mà nói vài
giờ đồng hồ thì làm sao nói hết. Vì vậy tôi xin tạm chấm dứt ở đây.
Có cơ hội mình sẽ nói tiếp.
|