 |
Sách Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Sách Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1981, xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất |
gia Cây Hồng Giòn.
Sám Pháp Địa Xúc (sách) Một nghi thức sám hối do Thầy Làng Mai sáng chế trong mùa an cư Kiết Đông năm 2000 gồm các bài sám và lạy, có thể thực tập cá nhân hoặc thực tập chung với tăng thân tại tu viện cũng như tại gia. Nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 2003, được dịch ra tiếng Anh với tựa đề Touching The Earth. Sám pháp rất hiện đại, rất hữu hiệu, có thể sử dụng cho người xuất gia lẫn người tại gia. Sám pháp này đã được sử dụng trong các khóa tu cho người xuất gia trong chuyến thăm viếng và hành đạo của Thiền Sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai đầu năm 2005.
Sao chỉ có Thầy nói nhiều (giai thoại) Trong một buổi vấn đáp của một khóa tu tại Hoa Kỳ, có một em bé hỏi Thầy Làng Mai: “Kính bạch Thầy, trong khóa tu này tất cả mọi người đều thực tập im lặng hùng tráng nhưng tại sao chỉ có Thầy là nói nhiều vậy? Thầy nói hai giờ đồng hồ một ngày! (“Dear Thầy, why in this retreat everyone practice noble silence but only you who talk too much? You talk for two hours every day!”)
Sao Hôm (địa danh) Tên một hồ của tổ đình Từ Hiếu.
Sao Mai (địa danh) Tên một hồ của tổ đình Từ Hiếu.
Sao Trên Biển (điện đường) Một thiền đường thuộc Xóm Trong Sáng, tu viện Lộc Uyển.
Sáu điểm (văn kiện) Trong dịp viếng thăm Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Phan Văn Khải ngày 25 tháng 03 năm 2005, thầy Làng Mai đã đề nghị sáu điểm về sự cởi mở của Đảng Cộng Sản Việt Nam như sau: 1. Người Cộng Sản Việt Nam cảm thấy thoải mái trong nếp sống văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam và nguyện sống như thế nào để có thể mỗi ngày làm đẹp thêm nếp sống ấy. 2. Người Cộng Sản Việt Nam ý thức rằng cây có cội, nước có nguồn và tổ tiên là nguồn gốc của mình, từ đó mình đã tiếp nhận được rất nhiều tuệ giác, kinh nghiệm và nếp sống văn hóa đẹp và lành. 3. Người Cộng Sản Việt Nam cảm thấy thoải mái khi mặc quốc phục và thắp một cây hương ở Đền Hùng, trên bàn thờ tổ tiên đặt trong nhà mình, và trước các đài kỷ niệm liệt sĩ. Đền Hùng, bàn thờ tổ tiên và đài liệt sĩ là biểu tượng cho sự quý mến cội nguồn và nếp sống ân nghĩa, không phải là đối tượng của một tín ngưỡng thần linh (Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một biểu tượng cho cội nguồn và ân nghĩa ấy). 4. Người Cộng Sản Việt Nam thấy được rằng phần tôn giáo tín ngưỡng bao quanh đạo Phật không phải là cốt tủy của đạo Phật. Cốt tủy của đạo Phật là một nguồn tuệ giác (trí tuệ) siêu việt được tất cả những nhận thức như có/không, tâm/vật, có khả năng bao dung, có khả năng chế tác tình huynh đệ lớn (từ bi), có khả năng chuyển hóa hận thù, kỳ thị, là những phép thực tập cụ thể giúp người tháo gỡ được những khó khăn nội tâm, tái lập được truyền thông, đem lại hòa giải trong nội tâm, trong gia đình và trong xã hội. Nguồn tuệ giác này và những phép thực tập này nếu được đem áp dụng đúng phép có công năng xây dựng lại được những gia đình hạnh phúc, những thôn làng yên vui, những khu phố văn minh không bị những tệ hại xã hội như tội phạm, bạo động, ma túy, băng đảng và sắc dục xâm chiếm. Truyền thống từ bi và tuệ giác này đã giúp dân tộc Việt Nam xây dựng nên một nếp sống thuần từ, kiến tạo được những thế kỷ hòa bình và làm nên bản sắc của nền văn hóa dân tộc. Bản sắc này được luân lưu trong dòng máu của tất cả mọi người Việt, kể cả những người không nghĩ họ là Phật tử.
5. Dù thấy rằng có nhiều người tự cho là theo Phật giáo nhưng chỉ biết cúng lễ cầu xin, Người Cộng Sản Việt Nam vẫn cảm thấy thoải mái, không kỳ thị với những người này và chỉ thấy mình được may mắn hơn, được có cơ hội học hỏi và sử dụng nguồn tuệ giác đạo Phật để có một chiều hướng sinh hoạt nội tâm phong phú, có thêm sức mạnh để vượt thắng khó khăn, tạo dựng được cảm thông và hạnh phúc trong gia đình, tổ chức và thành tựu được sự nghiệp mình một cách mau chóng. 6. Người Cộng Sản Việt Nam cảm thấy thoải mái sống chung với tất cả các truyền thống nào (đã du nhập vào Việt Nam từ lâu hay mới du nhập,) có khuynh hướng dân tộc hóa để trở thành một phần xương thịt của sự sống dân tộc, và tình huynh đệ giữa những truyền thống có đặc tính văn hóa dân tộc ấy là một sự thật không cần mang danh hiệu và màu sắc tôn giáo, chủng tộc, chủ thuyết, hoặc ý thức hệ.
|
|
Sáu mắt (pháp số) Ngoài năm mắt là mắt thịt (nhục nhãn), mắt trời (thiên nhãn), mắt tuệ (tuệ nhãn), mắt pháp (pháp nhãn), mắt Bụt (Phật nhãn), Thầy Làng Mai bổ sung thêm mắt thứ sáu là mắt Tăng (Tăng nhãn). Xem mắt tăng.
Sáu phép lạ mầu nhiệm của năng lượng chánh niệm (pháp số) 1. Chánh niệm giúp ta có mặt đích thực trong giờ phút hiện tại. 2. Chánh niệm giúp ta ý thức được sự có mặt của người ta thương và tất cả những gì mầu nhiệm đang xảy ra trong hiện tại. 3. Chánh niệm giúp ta tự nuôi dưỡng bằng những yếu tố đẹp đẽ và lành mạnh mà ta có thể tiếp xúc trong giây phút hiện tại. 4. Chánh niệm giúp ta ôm ấp và xoa dịu những khổ đau trong ta và nơi người khác. 5. Chánh niệm giúp ta nhìn sâu và quán chiếu vào tự tánh của những đau khổ trong ta. 6. Chánh niệm giúp ta chuyển hóa những khổ đau ấy bằng cái thấy do sự nhìn sâu và quán chiếu.
 |
Sắc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Sắc Nghiêm. Người Việt Nam, xuất gia năm 2005 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây |
Hướng Dương.
Sen Búp Từng Cánh Hé (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành lần đầu năm 1994. Nội dung bao gồm các bài thiền tập hướng dẫn có công năng chuyển hóa và trị liệu. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần ở nhiều nước trên thế giới. Bản dịch tiếng Anh với tựa đề The Blooming of a Lotus, do nhà Beacon, Hoa Kỳ ấn hành.
Sen Hái Đầu Mùa (tạp chí) Nội san của học tăng miền Nam do Thầy Làng Mai hướng dẫn. Số đầu tiên in năm 1960 do thầy Hồng Huệ, tại 234 Sư Vạn Hạnh, Chợ Lớn đảm trách. Các bài viết của Thầy trong nội san này ký bút hiệu Phương Bối.
 |
Sen Nở Trời Phương Ngoại (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, bình giảng kinh Pháp Hoa, do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 2001 và in tại Việt Nam |
cũng năm 2001.
 |
Sen Vàng (cơ sở) Một cư xá dành cho cư sĩ nữ tại tu viện Bích Nham. |
Siêu Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Siêu Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1980, xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn.
Soi sáng (phép tu) Là một pháp môn thực tập để xây dựng Tăng đoàn, căn cứ trên truyền thống lễ Tự tứ của Tăng đoàn xuất gia tổ chức để soi sáng cho nhau. Phép tu này được đại chúng xuất gia cũng như tại gia ở Làng Mai thực tập đều đặn. Thay vì cầu một người soi sáng như quy định trong lễ Tự tứ, ở Làng Mai, ta thành khẩn thỉnh cầu toàn thể tăng thân soi sáng giúp ta, chỉ cho ta thấy những ưu điểm và khuyết điểm của ta và bày cho ta những phép tu tập mà ta đang thực sự cần đến để cho sự thực tập của ta đem lại thành quả mau chóng. Tuệ giác của tăng thân bao giờ cũng sáng hơn tuệ giác của cá nhân, vì vậy cầu tăng thân soi sáng đích thực là một hành động quy y Tăng. Ta phải lạy xuống và cầu xin thì tăng thân mới họp lại và soi sáng cho ta. Soi sáng với tâm từ bi, chứ không phải là đưa ra những lời phê phán. Sau buổi soi sáng, người được soi sáng sẽ nhận được lá thư soi sáng, trong đó bao giờ cũng nói tới những điểm tích cực của đương sự, sau đó mới nói tới những điểm tiêu cực và sau hết là những lời chỉ bày giúp cho đương sự thực tập để chuyển hóa và đi tới.
 |
Song Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Đức, sinh năm 1953, tập sự xuất gia năm 2004 (51 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 30 tháng 8 |
năm 2004 (51 tuổi) tại chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Từ Quán, pháp tự Chân Song Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Olive. Thọ giới thức xoa ma na năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang được tổ chức tại Làng Mai. Thọ giới lớn ngày 5 tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa được tổ chức tại Làng Mai, Pháp Quốc.Trước khi xuất gia sư cô là một giáo thọ cư sĩ, nhận truyền đăng năm 2003, pháp tự tiếp hiện Chân Đức Âm với bài kệ truyền đăng: Hãy lắng lòng nghe khúc Đức Âm. Hải triều xô vỡ khối trần tâm. Bụi hồng khép lại sau khung cửa. Rừng tía đây rồi hiện pháp thân. Là đệ tử thứ 205 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Song Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
|
|
 |
Sống Chung An Lạc (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, viết về nghệ thuật xây dựng tăng thân, do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 2002 và in tại Việt Nam |
cũng năm 2002.
 |
Sơn Hạ (chùa) Một chùa thuộc Làng Mai tại Xóm Thượng. Địa chỉ: Le |
Pey 24240, Thenac, France, do thầy Chân Pháp Sơn làm trú trì.
 |
Sơn hạ hữu tuyền (bia) Một tấm bia dựng ở chùa Sơn Hạ, Làng Mai, có dòng chữ Hán: Sơn Hạ hữu tuyền, trạc chi tắc dũ - có nghĩa là dưới núi có dòng suối, lấy nước suối mà rửa thì vết thương sẽ lành. Câu này được trích trong bài tựa sách Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám |
Pháp.
 |
Sùng Nghiêm(tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1972, tập sự xuất gia năm 2004 (32 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 1 tháng |
2 năm 2005 (33 tuổi) tại chùa Hoằng Pháp, Việt Nam, pháp danh Tâm Quảng Hòa, pháp tự Chân Sùng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vú Sữa. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2007 trong đại giới đàn Phương Bối. Thọ giới lớn ngày 5 tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 215 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Sùng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Sư anh (tên gọi) Danh từ để gọi một vị xuất gia nam tại Làng Mai của các các thầy và các sư cô có tuổi tu nhỏ hơn (xuất gia sau) tại Làng Mai.
Sư bé (tên gọi) Danh từ để gọi một vị xuất gia trẻ dưới mười tám tuổi của Làng Mai của các thầy và các sư cô có tuổi tu lớn hơn (xuất gia trước) tại Làng Mai.
Sư bé 101 (tên gọi) Danh từ để gọi một sư cô trẻ xuất gia năm 13 tuổi, đệ tử thứ 101 của Thầy Làng Mai. Xem thêm Mẫn Nghiêm.
Sư cha (tên gọi) Danh từ để gọi một thầy giáo thọ của Làng Mai của các các thầy và các sư cô trẻ tại Làng Mai.
Sư chị (tên gọi) Danh từ để gọi một vị xuất gia nữ tại Làng Mai của các các thầy và các sư cô có tuổi tu nhỏ hơn (xuất gia sau) tại Làng Mai.
Sư em (tên gọi) Danh từ để gọi một vị xuất gia có tuổi tu nhỏ hơn tại Làng Mai của các các thầy và các sư cô có tuổi tu lớn hơn (xuất gia trước) tại Làng Mai.
Sư mẹ (tên gọi) Danh từ để gọi một sư cô giáo thọ của Làng Mai của các các thầy và các sư cô trẻ tại Làng Mai.
Sư Ông Làng Mai (tên gọi) Danh từ mà ban đầu các em bé đến Làng Mai gọi Thầy Làng Mai, nhưng sau này thì hầu hết mọi người đều gọi Thầy là Sư Ông Làng Mai. Xem Thầy Làng Mai.
Sư thúc (tên gọi) Các sư em của Thầy Làng Mai, cùng được xuất gia với hòa thượng Thanh Quý Chân Thật (xem Chí Mãn, Chí Mậu,Chí Niệm, Chí Thắng, Chí Viên).
Sư Tử Vàng
Tên đầy đủ là Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương. Một tác phẩm của thầy Pháp Tạng (643 – 713), được Sư Ông Làng Mai giảng dạy trong khóa an cư kiết đông với chủ đề Đồng Thời Tương Ứng (2007 – 2008), trong đó chúng ta có thể tìm thấy và áp dụng vào thực tiễn những tư tưởng uyên áo của Kinh Hoa Nghiêm như duyên sinh, duyên khởi, v.v... Đã được dịch từ bản tiếng Hán sang tiếng Việt, đồng thời sử dụng bản dịch tiếng Anh để làm tài liệu học cho khóa. Ngoài ra cũng có bản dịch tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng Đức.
Sử dụng thi kệ (phép tu) Là phương pháp giúp ta thực tập chánh niệm. Trong sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 và Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn do Tăng thân Làng Mai biên soạn có nhiều bài thi kệ, ta nên học thuộc để thực tập. Ví dụ như khi rửa tay ta thực tập với bài “Múc nước để rửa tay, xin nguyện cho mọi người, có đôi bàn tay khéo, gìn giữ trái đất này.” Mỗi câu kệ đi theo một hơi thở. Phép thực tập ở thiền môn đầy tính thi ca, rất đẹp, chúng ta nên tìm cách thừa hưởng nếp sống của nền văn hóa tâm linh ấy.
Sự Tích Quan Âm Hương Tích (sách) Một cuốn sách song ngữ (Việt – Anh ) của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 1997 và cũng đã được in lại ở Việt Nam.
Sự Tích Quan Âm Thị Kính (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 1997 và đã được in lại ở Việt Nam.
 |
Sỹ Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Hồng Kông, quốc tịch Hồng Kông, sinh năm 1969, tập sự xuất gia năm 2007 (38 tuổi), thọ giới Sa Di ngày |
17 tháng 2 năm 2008 (39 tuổi) tại Chùa Cam Lộ - Làng Mai, pháp danh Tâm An Hiện, pháp tự Chân Sỹ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Là đệ tử thứ 481 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Sỹ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
|