Từ Điển Làng Mai

Trang Nhà | Làng Mai | Thiền Sư Nhất Hạnh |Tu Học | Tin Tức | Hình Ảnh | Văn Nghệ | Hiểu và Thương | Tài Liệu | Khóa Tu | Bạn Trẻ
Tăng Thân

M

Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự (chùa)
Mai Nghiêm (tên gọi)
Mai Thôn Đạo Tràng (cơ sở) 
Mãn Nghiêm (tên gọi)
Mặc Nghiêm (tên gọi)
Mắt tăng (thuật ngữ) 
Mắt thương (thuật ngữ)
Mẫn Nghiêm (tên gọi)
Mật Nghiêm(tên gọi)
Mây Hồng (cơ sở)
Mây Thong Dong (điện đường)
Mây Tím (cơ sở)
MCorp Global (tên hãng)
Michel Shane (tên gọi)
Minh Châu (tên gọi) 
Minh Đức (tên gọi)
Minh Hương (tên gọi)
Minh Mẫn (tên gọi)
Minh Nghiêm (tên gọi)
Minh Phương (tên gọi)
Minh Tánh (tên gọi)
Minh Tánh (tên gọi)
Minh Tuấn (tên gọi)
Mì gói Giáng Kiều (thuật ngữ)
Moon Bamboo (sách)
Mỗi bước chân đi vào tịnh độ (thuật ngữ)
Một Bó Hoa Đồng (sách)
Mở Thêm Rộng Lớn Con Đường (bài hát)
Mười bốn bài kệ Chỉ Quán (thi kệ)
Mười bốn giới tiếp hiện (pháp số, giới điều) 
Mười điểm (văn kiện)
Mười giới sa di (pháp số, giới điều)
Mỹ Nghiêm (tên gọi)

Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự (chùa) Một chùa thuộc Xóm Hạ, Làng Mai, thường gọi là chùa Cam Lộ. Địa chỉ: Meyrac 47120, Loubès-Bernac, France, do sư cô Chân Diệu Nghiêm (sư cô Jina) làm trụ trì.
Mai Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Pháp, quốc tịch Pháp, sinh năm 1984, tập sự xuất gia năm 2002 (18 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 26 tháng 5 năm
2002 (18 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, với pháp danh Tâm Hỷ Hướng, pháp tự Chân Mai Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Xoan. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Thọ giới lớn ngày 14 tháng 1 năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 160 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Mai Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Sư cô có năng
khiếu về âm nhạc và đã phổ nhạc cho bài tụng Quy Nguyện bằng tiếng
Pháp. 
Mai Thôn Đạo Tràng (cơ sở)  Còn gọi là Làng Mai (xem Làng Mai).
Mãn Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1962, tập sự xuất gia năm 2005 (42 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 7 tháng 8
năm 2005 (43 tuổi) tại Chùa Pháp Vân – Làng Mai với pháp danh Tâm Thuận Thiện, pháp tự Chân Mãn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 241 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Mãn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Mặc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1983, tập sự xuất gia năm 2004 (21 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 1 tháng 2 năm 2005 (22 tuổi) tại chùa Hoằng Pháp, Việt Nam, pháp danh Tâm Nguyên Hiếu, pháp tự Chân Mặc Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vú Sữa. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2007 trong đại giới đàn Phương Bối. Thọ giới lớn ngày 5 tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 226     của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Mặc Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Mắt tăng (thuật ngữ) Con mắt của tăng thân, của đoàn thể tu học. Một danh từ được Làng Mai chế tác. Trước đó chỉ có ngũ nhãn là mắt thịt (nhục nhãn), mắt trời (thiên nhãn), mắt tuệ (tuệ nhãn), mắt pháp (pháp nhãn), và mắt Bụt (Phật nhãn). Mắt tăng (tăng nhãn – có thể dịch ra tiếng Phạn là sangha-caksus) là cái thấy của tăng thân, bao giờ cũng sáng suốt hơn là cái thấy của một cá nhân. Ở Làng Mai, hành giả được tăng thân soi sáng và dìu dắt trên con đường thực tập. Hành động soi sáng và dìu dắt này được căn cứ trên cái thấy của tăng thân về mình. Cái thấy ấy là tăng nhãn. Hành giả nên tập sử dụng tăng nhãn để nhìn tự thân và nhìn sự việc.
Mắt thương (thuật ngữ) Con mắt từ bi, dịch chữ từ nhãn (từ nhãn thị chúng sinh, lấy con mắt thương nhìn mọi loài) trong phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa. Nhìn người khác bằng con mắt từ bi, hành giả sẽ không bao giờ đau khổ và người được nhìn cũng cảm thấy được chấp nhận và thương yêu. Thực tập bài kệ Thức dậy sẽ giúp nuôi dưỡng tinh thần ấy mỗi ngày: Thức dậy miệng mỉm cười. Hăm bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời.
Mẫn Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt-Hoa, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 1999 (12 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 04 tháng 12 năm
1999 (13 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Đức Luân, pháp tự Chân Mẫn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Anh Đào. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế. Thọ giới lớn ngày 14 tháng 01 năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp được tổ chức Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng: Đóa sen linh mẫn ngát hương thiền. Trang điễm trần gian cõi tịnh nghiêm. Tám gió kêu gào tâm chẳng động. Trái tim hồng ngọc chiếu tây thiên. Là đệ tử thứ 101 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Mẫn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Sư cô là một trong những đệ tử trẻ tuổi của Sư Ông Làng Mai, được Sư Ông Làng Mai đặt danh hiệu Baby Nun và còn được biết tới với biệt danh Sư bé 101.
Mật Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Canada, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2001 (16 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 28 tháng 6
năm 2001 (16 tuổi) tại chùa Pháp Vân – Làng Mai với pháp danh Tâm Hiền Thiện, pháp tự Chân Mật Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Dâu. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 127 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Mật Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Là một trong những đệ tử trẻ tuổi của Sư Ông Làng Mai được Sư Ông Làng Mai đặt danh hiệu Baby Nun.
Mây Hồng (cơ sở) Một cư xá dành cho cư sĩ nam tại tu viện Bích Nham.
Mây Thong Dong (điện đường) Một thiền đường thuộc chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới, Làng Mai.

Mây Tím (cơ sở) Một cư xá thuộc chùa Cam Lộ,Xóm Hạ, Làng Mai.

MCorp Global (tên hãng) Tên của một công ty do tiến sĩ Bhupendra Kumar Modi làm giám đốc. Công ty này đã quyết định bỏ ra 120 triệu Mỹ Kim để thực hiện phim Buddha căn cứ vào tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng của Thầy Làng Mai.
Michel Shane (tên gọi)Tên nhà sản xuất phim tại Hollywood có phận sự thực hiện cuốn phim Buddha dựa trên tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng của Thầy Làng Mai. Cuốn phim được tài trợ bởi công ty M Corp Global do tiến sĩ Bhupendra Kumar Modi làm giám đốc.
Minh Châu (tên gọi)  Một vị xuất gia nữ tu học tại Làng Mai, với pháp tự là Chân Vân Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1983, xuất gia năm 1991 tại Việt Nam.
Minh Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như sau: Minh nguyệt sơ đăng truyền pháp nhũ. Đức sơn bất động phá trầm luân. Thụy khởi thanh thiên vân tận khứ. Đương chiêm tuệ nhật nhất phương hồng. (Trăng sáng vừa lên cho sữa pháp. Núi cao ngồi vững phá tâm trần. Thức dậy trời xanh mây quét sạch. Hồng hào tuệ nhật chiếu phương Đông.)
Minh Hương (tên gọi)  Một vị xuất gia nữ tu học tại Làng Mai. Thọ giới năm 2004 với pháp tự là Chân Thạch Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1979, xuất gia năm 1992 tại Việt Nam.
Minh Mẫn (tên gọi) Một vị xuất gia nam đang tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1975, xuất gia ngày 8 tháng 5 năm 1995
tại chùa Huệ Nghiêm, Việt Nam, pháp danh Trung Bảo, pháp tự Thích Minh Mẫn. Thọ giới lớn ngày 20 tháng 5 năm 1999 tại chùa Linh Sơn, Việt Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp được tổ chức tại Làng Mai với bài kệ truyền đăng như sau: Không trung vầng nhật chiếu quang Minh. Mẫn tiệp tâm khai chuyển khí tình. Xuất thế công phu dòng thật quán. Chân thừa pháp lực độ quần sinh. Là đệ tử của Thượng tọa Thích Thiện Nhơn. Gốc chùa Huệ Nghiêm, Việt Nam. Đến Làng Mai từ năm 2001.
Minh Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1978, tập sự xuất gia năm 2006 (28 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 3 tháng 3 năm 2007 (29 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Niệm Phương, pháp tự Chân Minh Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 408 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Minh Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Minh Phương (tên gọi) Một vị xuất gia nữ tu học tại Làng Mai, thọ giới lớn năm 2004 tại Làng Mai với pháp tự là Chân Thủy Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1983, xuất gia
năm 2001 tại Việt Nam.
Minh Tánh (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, thượng tọa Thích Minh Tánh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như sau: Minh thấy vô minh nở nụ cười. Tánh soi vô tánh sạch trần ai. Trượng phu một quyết lên đường lớn. Gươm báu trao truyền hãy vững tay.
Minh Tánh (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, ni sư Chân Minh Tánh.  Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Minh tâm kiến tánh quyết lên đường. Tám vạn trần lao nguyện thả buông. Cơ nghiệp tổ tiên gây dựng lại. Xuân về đâu chẳng một mùa xuân.
Minh Tuấn (tên gọi)Một vị giáo thọ nam của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1951, xuất gia năm 1965 tại Việt Nam, pháp danh Thị Thường, pháp tự
Minh Tuấn. Thọ giới lớn năm 1972.  Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp với bài kệ truyền đăng: Thông Minh Tuấn tú bậc anh tài. Nương thuyền Tăng bảo vượt trần ai. Sương thu cành huệ xòe hoa trắng. Một hướng ngàn năm vững bảo đài.
Mì gói Giáng Kiều (thuật ngữ) Câu chuyện Tú Uyên và Giáng Kiều trong Bích Câu Kỳ Ngộ của Đặng Trần Côn được Thầy Làng Mai hiện đại hóa để nói về nghệ thuật tái lập truyền thông. Tú Uyên thông minh, đẹp trai, nhưng không giữ năm giới, không có khả năng truyền thông. Nhờ thực tập đốt hương Giới, hương Định và hương Tuệ mà được đoàn tụ lại với Giáng Kiều. (Trích bài Pháp thoại Tìm Lại Giáng Kiều, sách Leo Đồi Thế Kỷ, Lá Bối xuất bản, từ trang 74 đến trang 89).
Moon Bamboo (sách) Tập truyện ngắn bằng tiếng Anh dịch từ các chuyện của Tố, Hồng, Bưởi và Thiều do nhà in Parallax xuất bản năm 1989 tại Hoa Kỳ. Được dịch và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.
Mỗi bước chân đi vào tịnh độ (thuật ngữ) Mỗi bước chân của hành giả khi thực tập thiền đi đều đưa hành giả vào tịnh độ. Khi tâm hành giả có năng lượng của niệm và định, hành giả thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, không bị quá khứ và tương lai lôi kéo, và hành giả tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống ngay trong giây phút hiện tại. Những mầu nhiệm của cõi Tịnh Độ được nói đến trong kinh A Di Đà bỗng nhiên có mặt và vì vậy hành giả tiếp xúc được với tịnh độ trong lúc thực tập đi thiền. Tịnh độ không phải ở phương Tây hay ở tương lai, mà là tịnh độ bây giờ và ở đây. Đó gọi là hiện pháp tịnh độ, hay tịnh độ hiện tiền. Đi đâu hành giả cũng tiếp xúc với tịnh độ, đi đâu hành giả cũng mang tịnh độ theo, vì vậy tịnh độ còn được gọi là tịnh độ cầm tay (the portable pure land). Nắm tay Bụt để đi trong tịnh độ mỗi ngày, đó là phép thực tập thiền đi, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu.
Một Bó Hoa Đồng
(sách) Một tập truyện ngắn nhiều tác giả do nhà Lá Bối, Paris xuất bản năm 1977. Các truyện của Thầy ký bút hiệu Nhất Hạnh.

Mở Thêm Rộng Lớn Con Đường (bài hát) Một bài hát, lời của Thầy Làng Mai, nhạc Tịnh Thủy (sư cô Chân Quy Nghiêm). Mái tóc vốn màu gỗ quý. Nay dâng thành khối trầm thơm. Nét đẹp đi về vĩnh cửu. Vi diệu thay ý vô thường. Đã thấy đời cơn huyễn mộng. Chân tâm một quyết lên đường. Nghe hải triều lên mấy độ. Nguyện phát túc về siêu phương. Gió reo trên triền núi Thứu. Lòng này thôi hết vấn vương … Sáng nay cạo sạch mái tóc. Mở thêm rộng lớn con đường. Phiền não vô biên nguyện đoạn. Một tâm mà động mười phương.
Mười bốn bài kệ Chỉ Quán (thi kệ) 1. Như chim có hai cánh. Thiền tập có chỉ, quán. Hai cánh chim nương nhau. Chỉ và Quán song hành. 2. Chỉ là tập dừng lại. Để nhận diện, tiếp xúc. Nuôi dưỡng và trị liệu. Lắng dịu và chú tâm. 3. Quán là tập nhìn sâu. Vào bản chất năm uẩn. Làm phát khởi tuệ giác. Chuyển hóa mọi sầu đau. 4. Hơi thở và bước chân. Chế tác nguồn chánh niệm. Để nhận diện, tiếp xúc. Với sự sống màu nhiệm. 5. Làm lắng dịu thân, tâm. Nuôi dưỡng và trị liệu. Hộ trì được sáu căn. Và duy trì chánh định. 6. Nhìn sâu vào thực tại. Thấy tự tính các pháp. Quán giúp ta buông bỏ. Mọi tìm cầu sợ hãi. 7. An trú trong hiện tại. Chuyển hóa các tập khí. Làm phát sinh tuệ giác. Giải thoát mọi não phiền. 8. Vô thường là vô ngã. Vô ngã là duyên sinh. Là không, là giả danh. Là trung đạo, tương tức. 9. Không, vô tướng, vô tác. Giải tỏa mọi sầu đau. Trong nhật dụng công phu. Không kẹt vào lý giải. 10. Niết Bàn là vô đắc. Đốn, tiệm không phải hai. Chứng đạt sống thảnh thơi. Ngay trong giờ hiện tại. 11. Các thiền kinh căn bản. Như An Ban, Niệm Xứ. Chỉ đường đi nước bước. Chuyển hóa thân và  tâm. 12. Các kinh luận đại thừa. Mở thêm nhiều cửa lớn. Giúp ta thấy chiều sâu. Của dòng thiền Nguyên Thỉ. 13. Như Lai và Tổ Sư. Thiền chẳng nên cách biệt. Bốn đế phải nương nhau. Làm nền tảng truyền thừa. 14. Có Tăng thân yểm trợ. Thực tập dễ thành công. Chí nguyện lớn độ sinh. Lên đường mau thành tựu.


 

Mười bốn giới tiếp hiện (pháp số, giới điều)  Những giới điều làm căn bản cho Dòng Tu Tiếp Hiện, một dòng tu được thiết lập tại chùa Pháp Vân Sài Gòn vào tháng 02 năm 1966. Mười bốn điều làm đường hướng, làm ý thức soi sáng cho từng giây từng phút của sự sống hàng ngày của những thành viên dòng tu Tiếp Hiện. Vì tôn chỉ của dòng Tiếp Hiện là hiện đại hóa đạo Bụt bằng cách nghiên cứu, thực nghiệm và áp dụng đạo Bụt một cách linh động và hữu hiệu vào đời sống mới của bản thân cũng như của xã hội, nên mười bốn giới Tiếp Hiện thể hiện rõ ràng tinh thần đó. Theo đạo Bụt, tâm là chủ, là họa sĩ vẽ ra tất cả các pháp, vì vậy giới Tiếp Hiện được bắt đầu bằng bảy giới về tâm ý. Hai giới tiếp theo dành cho lời nói (ngữ) và năm giới cuối cùng điều chỉnh thân. Giới Tiếp Hiện cũng phản ánh được bốn đặc tính quan trọng nhất của tư tưởng đạo Bụt Đại Thừa là tính phá chấp (vượt thoát ra ngoài mọi thành kiến, mọi cố chấp và giáo điều), tính khế cơ (có tính thực dụng và hữu hiệu, phù hợp với hoàn cảnh tâm lý và xã hội), tính thực chứng (tôn trọng thực nghiệm, không vướng vào các vấn đề siêu hình) và tính phương tiện (những pháp môn mới được sáng tạo ra để phù hợp với căn cơ mới, thời đại mới).  Giới Tiếp hiện dành cho cả người xuất gia và tại gia. Bản chất và cách thức hành trì giới Tiếp Hiện gần với bản chất và cách hành trì của giới Bồ Tát. 1. Giới thứ nhất: Cởi mở và bao dung: Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. 2. Giới thứ hai: Không vướng mắc vào sở Tri Kiến: Ý thức được những khổ đau do kiến chấp và vọng tưởng gây ra, con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp hòi và cố chấp, để có thể cởi mở và đón nhận tuệ giác và kinh nghiệm của người khác. Con biết rằng những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân lý bất di bất dịch, và tuệ giác chân thực chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự chứa chấp kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút. 3. Giới thứ ba: Tự do nhận thức: Ý thức được những khổ đau do sự cưỡng bức kẻ khác vâng theo ý kiến của mình, con nguyện không ép buộc người khác, kể cả trẻ em, theo quan điểm của con, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và sự tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải dùng những phương tiện đối thoại từ bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp. 4. Giới thứ tư: Ý thức về khổ đau: Ý thức rằng tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường thoát khổ, con nguyện không trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của cuộc sống. Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những đau khổ hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con biết rằng sự thật thứ tư là đạo đế chỉ hiển lộ khi nào con quán chiếu và thấy được tự tánh của sự thật thứ nhất là khổ đế, và con sẽ luôn luôn nhớ rằng mục đích của sự tu tập là chuyển hóa khổ đau trở thành an lạc. 5. Giới thứ năm: Sống lành mạnh và giản dị: Ý thức rằng hạnh phúc chân thực không thể đạt tới được bằng tiền tài và danh vọng mà chỉ thật sự có mặt khi nào các yếu tố an ổn, vững chãi, thảnh thơi và từ bi có mặt, con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải trong khi nhiều người đang đói khổ, thiếu thốn, không đặt danh vọng, quyền hành và sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu của đời mình. Con nguyện tập sống giản dị và học chia sẻ thì giờ, khả năng và tài vật của mình với những kẻ thiếu thốn. 6. Giới thứ sáu: Đối xử với năng lượng sân hận: Ý thức được rằng sân hận và oán thù có tác dụng cắt đứt truyền thông giữa người với người và tạo ra nhiều đau khổ cho cả hai phía, con nguyện học hỏi phương pháp chăm sóc và đối xử với năng lượng sân hận và oán thù khi chúng phát khởi trên ý thức con và phương pháp quán chiếu để nhận diện và chuyển hóa hạt giống của sân hận và oán thù trong chiều sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để mỗi khi cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành ngoài trời để chăm sóc tâm niệm sân hận và oán thù của con bằng năng lượng chánh niệm và để nhìn sâu vào bản chất của các tâm niệm sân hận và oán thù ấy. Con cũng nguyện sẽ học hỏi nhìn sâu vào tự tánh của người mà con nghĩ đã gây nên tâm niệm sân hận và oán thù của con và để có thể nhìn được người ấy bằng con mắt từ bi. 7. Giới thứ bảy: An trú trong giây phút hiện tại: Ý thức được rằng sự sống chỉ có thể thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, và ta chỉ có thể sống an lạc ngay trong giây phút ấy, con nguyện tập luyện để có thể sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của con. Con nguyện không để cho những hối tiếc về quá khứ, những lo lắng về tương lai và những tham dục, giận hờn và ganh tỵ đối với những gì đang xảy ra trong hiện tại lôi kéo con và làm cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm. Con nguyện thực tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng hơi thở và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung quanh con, để liên tục gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống an lành, hiểu biết và thương yêu trong con, làm động lực chuyển hóa chiều sâu tâm thức và đi tới trên đường thành tựu đạo nghiệp. 8. Giới thứ tám: Cộng đồng và truyền thông: Ý thức được rằng những khó khăn trong việc truyền thông giữa người với người luôn luôn đưa tới ngăn cách và khổ đau, con nguyện thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và nói năng bằng lời ái ngữ. Con nguyện học hạnh lắng nghe chăm chú mà không phán xét và chỉ trích và không nói ra bất cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa trong đoàn thể và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Con nguyện tu tập để tái lập lại sự truyền thông giữa con và mọi người khác, và để giúp giải quyết mọi vụ bất hòa, dù lớn dù nhỏ. 9. Giới thứ chín: Lời nói chân thật và ái ngữ: Ý thức được rằng lời nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh phúc, con xin nguyện luyện tập để chỉ nói những lời nói chân thật có tác dụng hòa giải, gây niềm tin tưởng và hy vọng. Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù, không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những gì con không biết rõ. Con nguyện can đảm nói ra sự thật về những tình trạng bất công, dù hành động này có thể mang lại những đe dọa cho sự an thân của mình. 10. Giới thứ mười: Bảo vệ tăng thân: Ý thức rằng mục đích và bản chất của một đoàn thể tu học là sự thực hiện tuệ giác và từ bi, con nguyện không bao giờ lợi dụng đạo Bụt và các đoàn thể giáo hội vào mục tiêu quyền bính, không biến các giáo đoàn thành những tổ chức hoạt động chính trị. Tuy nhiên, con nhận thức rằng các đoàn thể tu học phải có ý thức và thái độ rõ rệt về những tình trạng áp bức và bất công xã hội và có thể sử dụng ảnh hưởng mình để chuyển đổi các tình trạng ấy mà không cần và không nên dấn thân vào những cuộc tranh chấp phe phái. 11. Giới thứ mười một: Chánh mạng: Ý thức rằng thiên nhiên và xã hội con người đã bị tàn phá trầm trọng vì bạo động và bất công, con nguyện thực tập chánh mạng, quyết tâm không sinh sống bằng những nghề nghiệp có thể gây tàn hại cho con người và thiên nhiên, không đầu tư vào những doanh nghiệp chuyên làm lợi cho một nhóm người trong khi tước đoạt môi trường và cơ hội sinh sống của những nhóm người khác. Con nguyện chọn một nghề có thể giúp con thực hiện được lý tưởng từ bi và cứu khổ của đạo Bụt. 12. Giới thứ mười hai:Tôn trọng sinh mạng: Ý thức được những khổ đau do chiến tranh và các cuộc xung đột tạo ra, con nguyện thực tập sống đời sống hàng ngày của con theo tinh thần bất hại, hiểu biết và thương yêu. Con nguyện góp phần vào công việc giáo dục hòa bình và thực tập hòa giải trong phạm vi gia đình, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự chém giết, và thường xuyên quán chiếu với tăng thân con để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ sinh mạng, ngăn chặn chiến tranh và xây dựng hòa bình. 13. Giới thứ mười ba: Sự hảo tâm: Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại. 14. Giới thứ mười bốn: Hành động chân chính. Dành cho Tiếp Hiện tại gia: Ý thức được rằng sự tìm tới và phối hợp giữa hai cơ thể do sự thúc đẩy của dục tình không những đã không thể giải tỏa được nỗi cô đơn của con người mà còn tạo thêm nhiều khổ đau, chua cay và xa cách, con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng hành động tà dâm sẽ gây ra khổ đau cho kẻ khác và cho chính con trong hiện tại và trong tương lai. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những điều mà mình và kẻ khác đã cam kết. Con nguyện sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con ý thức được trọn vẹn trách nhiệm của con về sự cho ra đời những sinh mạng mới và thường xuyên quán chiếu về môi trường sinh hoạt trong tương lai của những sinh mạng này. Tiếp Hiện xuất gia: Ý thức được rằng lý tưởng xuất gia chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết cô đơn và khổ đau không thể nào được giải tỏa bằng dục tình mà chỉ có thể được chuyển hóa bằng sự thực tập hiểu biết và thương yêu đích thực. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ khác và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. Con nguyện không ép uổng thân thể con, không đối xử với thân thể con một cách bạo động và khinh xuất, không xem thân thể chỉ như là một dụng cụ. Con nguyện bảo trọng thân thể con, xem thân thể mình là đền thờ của tâm linh, là chiếc thuyền vượt biển, và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để có đủ năng lực hành đạo.

 

Mười điểm (văn kiện) Những đề nghị về mở rộng chính sách tôn giáo được Thầy Làng Mai đệ trình lên ngài Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết trong dịp thăm viếng phủ Chủ tịch ngày 5 tháng 5 năm 2007. Những đề nghị này được đưa ra dựa trên những nhận xét và lắng nghe trong suốt hai chuyến trở về và hoằng pháp tạiViệt Nam năm 2005 và 2007. Mười điểm đó là:1. Xin chính phủ ra lệnh lập một đài tưởng niệm thuyền nhân thiệt mạng trên biển cả tại Vũng Tàu. 2. Xin cho các thân nhân của những người được chôn trong các nghĩa trang quân đội VNCH cũ được dễ dàng viếng thăm, cúng lễ và bốc mộ. 3. Xin chính phủ yểm trợ việc xây dựng tháp kỷ niệm Bồ tát Thích Quảng Đức tại TP HCM. 4. Xin cho những người gốc Việt cư trú ở nước ngoài được về nước thăm viếng, làm việc, đầu tư, giảng dạy, hoằng pháp mà không cần Visa. 5. Xin bắt đầu cho phép một số những người gốc Việt cư trú ở nước ngoài được có song tịch (quốc tịch đôi) để họ có dịp bày tỏ niềm trung thành của họ với tổ quốc và quê hương. 6. Xin đừng xem các thầy và các sư cô gốc Việt về nước để yểm trợ Phật giáo là những giáo sĩ ngoại quốc và xin cấp phát dễ dàng cho các vị ấy loại Visa làm việc tôn giáo nhiều lần trong 5 năm một cách dễ dàng mau chóng. Xin chính phủ cho phép các vị ấy chia xẻ sự tu học của mình đến mọi tầng lớp nhân dân trong cũng như ngoài các cơ sở của giáo hội cũng như tại các cơ sở công cộng khác của đất nước mà không có sự phân biệt kỳ thị. 7. Xin có một chính sách đặc biệt đối với Phật giáo, bởi vì đạo Phật đã là nền móng dựng nước và giữ nước trong gần hai ngàn năm, và là yếu tố chính của nền văn hóa Việt Nam. 8. Để Phật giáo theo kịp đà hội nhập vào đời sống mới, chấm dứt tình trạng ủng trệ hiện nay và đóng góp tích cực phần mình vào công trình văn minh hóa nếp sống gia đình, cộng đồng và xã hội, xin cho phép Phật tử Việt Nam tự do thành lập nhiều hội đoàn Phật giáo với những nét đặc thù của mình. Những hội đoàn này chỉ cần đăng ký hợp pháp là có thể hoạt động được ngay như ở bất cứ một nước văn minh nào trên thế giới. Phật tử Việt Nam có quyền chọn lựa một hoặc nhiều hội đoàn thích hợp để có cơ hội đóng góp công phu và tài năng của mình. Những hội đoàn này có quyền truyền bá tư tưởng và pháp tu tập của mình ra các nước ngoài (tương tự như phương thức W.T.O trong lãnh vực kinh tế). Các hội đoàn đó có thể bao gồm: Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thỉ, Giáo Hội Phật Giáo Thiền Tông, Giáo Hội Phật Giáo Tịnh Độ Tông, Giáo Hội Phật Giáo Khất Sĩ, Giáo Hội Phật Giáo Thiên Thai Giáo Quán Tông, Giáo Hội Phật Giáo Thiền Tịnh Đạo Tràng, Giáo Hội Phật Giáo Sư Sãi Tây Nam Bộ, Giáo Hội Phật Giáo Nam Tông K’mer, Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, Giáo Hội Đạo Bụt Nhất Quán, Giáo Hội Phật Giáo Hiện Đại Hóa, Gia Đình Phật Tử, Hội Sinh Viên Phật Tử, Hội Học Sinh Phật Tử, Hội các nhà Khoa Học Phật Tử, Hội các nhà Giáo Phật Tử, Hội Y Sĩ Phật Tử, Hội các nhà Văn Phật Tử, Hội Phật Học Nam Việt, Giáo Hội Tăng Già Chỉnh Lý, v.v.... 9. Xin cho Tăng Ni được phép hành đạo khắp nơi trên lãnh thổ quê hương (như Hòa thượng đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận tuyên bố) không bị hạn chế bởi vấn đề hộ khẩu, có quyền dựng chùa viện bất cứ ở đâu không kể nơi đó có nền chùa cũ hay không – các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Lào Cai, Thái Nguyên, v.v… 10. Xin chính phủ thực hiện việc tách rời tôn giáo khỏi chính trị và chính trị khỏi tôn giáo… ngưng lại mọi quản chế của chính quyền trên giáo quyền, giải thể Ban Tôn giáo Chính phủ và trước hết là ngành Công an Tôn giáo. Tất cả các đoàn thể tôn giáo đều được sinh hoạt tự do trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, như bất cứ một hội đoàn văn hóa, thương mại, công nghiệp và xã hội nào.
Mười giới sa di (pháp số, giới điều) Mười giới dành cho các vị xuất gia nam và nữ trong những năm đầu của cuộc sống xuất gia và là nền tảng của giới lớn Ba La Đề Mộc Xoa sau này. Có trong sách Bước Tới Thảnh Thơi, là kim chỉ nam thực tập cho các vị sa di và sa di ni. Hành tướng mười giới được trình bày rất cụ thể, rõ ràng và rất hiện đại. Mười giới sa di đúng là tiêu chuẩn của đời sống một người xuất gia, dù vị xuất gia này đã thọ giới lớn. Chỉ cần đọc mười giới này cũng đủ thấy đời sống và lý tưởng của người xuất gia là cao viễn, thảnh thơi và đẹp đẽ. Sống đúng theo mười giới này, vị sa di chứng tỏ mình đã ly khai con đường trần lụy của thế gian và đang bước trên con đường thương yêu của các vị Bụt và Bồ Tát. Bảo tồn nguyên vẹn tinh thần của các giới luật nguyên thỉ, Hội đồng Giáo thọ của đạo tràng Mai Thôn đã biên soạn lại để mười giới sa di phản ánh được bản chất chánh niệm của giới, đồng thời cũng thỏa mãn được nhu yếu về lý tưởng thương yêu và hiểu biết của những người xuất gia trong thời đại mới. 1. Giới thứ nhất là bảo vệ sinh mạng: Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con. 2. Giới thứ hai là tôn trọng quyền tư hữu: Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ và năng lực của con với những kẻ thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm của riêng bất cứ một tài vật nào của thường trú hoặc của bất cứ ai. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, và cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại. 3. Giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh: Ý thức được rằng lý tưởng của người xuất gia chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ khác, và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. 4. Giới thứ tư là thực tập chánh ngữ và lắng nghe: Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo các hạnh chánh ngữ và lắng nghe để có thể dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện thực tập lắng nghe với tâm từ bi, để có thể hiểu được những khổ đau và khó khăn của kẻ khác và để làm vơi đi những khổ đau của họ. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong đoàn thể tu học của con, những điều có thể gây nên chia rẽ và làm tan vỡ đoàn thể tu học của con. Con nguyện không nói những lỗi lầm của bất cứ một vị xuất gia nào ngoài tăng thân con và bất cứ về một đạo tràng nào khác, dù có khi con nghĩ là những lỗi lầm này có thật. 5. Giới thứ năm là bảo vệ và nuôi dưỡng thân tâm, không sử dụng rượu, các chất ma túy và tiêu thụ những sản phẩm có độc tố: Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng rượu, các chất ma túy và các độc tố gây ra, con nguyện chỉ tiêu thụ những thức ăn thức uống không có độc tố và không có tác dụng gây nên sự say sưa, tình trạng mất tự chủ của thân tâm và tình trạng nặng nề và ốm đau của thân thể cũng như của tâm hồn. Con nguyện thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống và tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có cả những sản phẩm sách báo và phim ảnh có chứa đựng bạo động, sợ hãi, thèm khát và hận thù. 6. Giới thứ sáu là không sử dụng mỹ phẩm và đồ trang sức: Ý thức được cái đẹp đích thực của người xuất gia là tính chất vững chãi và thảnh thơi, con nguyện mỗi ngày làm đẹp cho con và cho tăng thân con bằng sự thực tập chánh niệm, cụ thể qua sự hành trì giới luật và các uy nghi trong đời sống hàng ngày. Con biết các loại mỹ phẩm và trang sức mà người đời sử dụng chỉ có thể đem lại sự hào nhoáng giả tạo bên ngoài, và chỉ có tác dụng gây ra sự chìm đắm và vướng mắc, cho nên con nguyện sống giản dị, gọn gàng và sạch sẽ trong cách ăn mặc của con. Con nguyện không sử dụng các loại nước hoa, phấn, sáp, các loại mỹ phẩm và các thức trang sức khác. 7. Giới thứ bảy là không vướng mắc vào các lối tiêu khiển trần tục: Ý thức được những ca khúc, phim truyện, sách báo và các trò giải trí của thế gian có thể có tác dụng độc hại cho thân tâm người xuất gia và làm mất thì giờ cho công phu tu học của mình, con nguyện không để bị chìm đắm theo những sản phẩm ấy. Con nguyện không đọc tiểu thuyết, xem phim ảnh và sách báo trần tục, không tìm sự tiêu khiển bằng cách ca hát và thưởng thức những bài hát tình sầu, kích động và đứt ruột, và không đánh mất thì giờ tu học của con bằng những trò chơi điện tử và bài bạc. 8. Giới thứ tám là không sống đời sống vật chất sang trọng và xa hoa: Ý thức được rằng sống trong những điều kiện vật chất sang trọng và xa hoa, người xuất gia sẽ khởi tâm ái dục và tự hào, con nguyện suốt đời chỉ sống một nếp sống giản dị, thiểu dục và tri túc. Con nguyện không ngồi và không nằm trên những chiếc ghế và chiếc giường lộng lẫy, không sử dụng lụa là, gấm vóc xe cộ bóng loáng và nhà cửa cao sang. 9. Giới thứ chín là không ăn mặn và không ăn ngoài những bữa ăn của đại chúng: Ý thức được nhu yếu giữ gìn sức khỏe, sống hòa hợp với tăng thân và nuôi dưỡng lòng từ bi, con nguyện suốt đời ăn chay và không ăn ngoài những bữa ăn của đại chúng, trừ trường hợp có bệnh. 10. Giới thứ mười là không tích lũy tiền bạc và của cải:Ý thức được rằng hạnh phúc của người xuất gia được làm bằng các chất liệu vững chãi và thảnh thơi, con nguyện không để cho tiền bạc và của cải làm vướng bận đường tu của con. Con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải, không đi tìm hạnh phúc trong sự chất chứa tiền bạc và của cải, không nghĩ rằng tiền bạc, châu báu và của cải có thể bảo đảm cho sự an ninh của con.
Mỹ Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1985 tập sự xuất gia năm 2004 (19 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 1 tháng 2
năm 2005 (20 tuổi) tại chùa Hoằng Pháp, Việt Nam, pháp danh Tâm Nguyên An, pháp tự Chân Mỹ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vú Sữa. Là đệ tử thứ 228 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Mỹ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 
Làng Mai - Plum Village - Village Des Pruniers - 24240 Le Pey Thenac France - Góp Ý : banbientap@langmai.org