Từ Điển Làng Mai

Trang Nhà | Làng Mai | Thiền Sư Nhất Hạnh |Tu Học | Tin Tức | Hình Ảnh | Văn Nghệ | Hiểu và Thương | Tài Liệu | Khóa Tu | Bạn Trẻ
Tăng Thân

Đ

Đã về đã tới (thuật ngữ, bài hát, lễ lược, tháp miếu) 
Đại Đồng (điện đường, tổ chức)
Đại Hòa (cơ sở, điện đường)
Đại trai đàn bình đẳng giải oan (nghi lễ)
Đài Nghiêm (tên gọi)
Đại trượng phu (bài hát)  
Đam mê (thuật ngữ)
Đám mây trong tờ giấy (thuật ngữ)
Đàm Nguyện (tên gọi)
Đạm Nghiêm (tên gọi)
Đan Nghiêm (tên gọi)
Đán Nghiêm(tên gọi)
Đàn Nghiêm (tên gọi)
Đáo Nghiêm (tên gọi)
Đào Nghiêm (tên gọi)
Đạo Bụt Bắc Truyền (thuật ngữ)
Đạo Bụt Nam Truyền  (thuật ngữ)  
Đạo Bụt nhập thế (thuật ngữ)
Đạo Nghiêm (tên gọi)
Đạo Phật Áp Dụng Vào Đời Sống Hàng Ngày (sách)
Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời (sách)
Đạo Phật Hiện Đại Hóa (sách)
Đạo Phật Ngày Mai (sách)
Đạo Phật Ngày Nay (sách)
Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới (sách)
Đạo Phật Và Hướng Đi Nhân Bản Đích Thực (sách)
Đạt Nghiêm (tên gọi)
Đắc Nghiêm (tên gọi) 
Đăng Nghiêm (tên gọi)
Đẳng Nghiêm (tên gọi)
Đây là tịnh độ (thuật ngữ, bài hát)
Đầu cành dương liễu (nhạc kinh)  
Đầu Thôn (cơ sở)
Đế thính (thuật ngữ) 
Để Bụt Thở (thi kệ)
Để Hiểu Đạo Phật (sách)
Để Nuôi Lớn Hạnh Phúc Trong Thời Gian Ở Làng Mai (Cẩm nang tu học)
Đệ nhị thân (thuật ngữ)  
Đi Gặp Mùa Xuân (sách)
Đi Như Một Dòng Sông (sách)
Điều Phục Cơn Giận (bài tụng)
Điều phục tâm hành (phép tu)
Định đề giáo lý Làng Mai (khóa giảng) 
Định Nghiêm (tên gọi) 
Điển Nghiêm (tên gọi)
Đóa Nghiêm (tên gọi)
Đoan Nghiêm
(tên gọi)
Đoàn tụ (lễ lược)
Độ Nghiêm (tên gọi)
Đôi mắt Của Bụt (khóa tu)
Đối Thoại Cánh Cửa Hòa Bình (sách)
Đồi Mận (cơ sở)
Đông hùng tráng, xuân kiện hành (thuật ngữ) 
Đông Phương Luân Lý Học (sách)
Đồng Châu (tên gọi)
Đồng Đạo (tên gọi)
Đồng Nghiêm (tên gọi)
Đồng Phúc (tên gọi)
Đồng Thời Tương Ứng (thuật ngữ)
Đồng Trung (tên gọi)
Đồng Từ (tên gọi)
Động tác chánh niệm (thuật ngữ)
Đời Của Phật (sách)
Đời Sống Tâm Linh (sách)
Đức Nghi (tên gọi)
Đức Nghiêm (tên gọi)
Đức Nguyên (tên gọi)
Đức Niệm (tên gọi)
Đức Tạng (tên gọi)
Đức Thành (tên gọi) 
Đức Phương (tên gọi)
Đừng bỏ gốc rễ (phát biểu)
Đừng Quên, Xin Đừng Vội Quên (sách)
Đường Chánh Niệm (địa danh)
Đường Hoa Thủy Tiên (sách)
Đường Về Vườn Nai (sách, cẩm nang tu tập)
Đường Xưa Mây Trắng – theo gót chân Bụt (sách)

Đã về đã tới (thuật ngữ, bài hát, lễ lược, tháp miếu) 1. Pháp ấn của Làng Mai. Các phép tu của Làng Mai dựa trên giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú, không nhắm mục đích tìm cầu hạnh phúc trong tương lai, mà giúp hành giả sống sâu sắc và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Những giáo lý và phương pháp thực tập nào đi ngược với nguyên tắc này đều không phải là những giáo lý và phương pháp đích thực của Làng Mai, vì vậy nên nói rằng ‘đã về đã tới’ là pháp ấn của Làng Mai. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi động tác, mỗi tư duy hay mỗi lời nói đều có khả năng đưa hành giả trở về với giây phút hiện tại. Địa chỉ đích thực của sự sống là ‘bây giờ và ở đây’. Hạnh phúc, tịnh độ, tổ tiên, niết bàn, giải thoát và chuyển hóa đều phải được tìm kiếm ngay trong giây phút hiện tại. ‘Ngồi thiền trong bản môn, giây nào cũng thành đạo, cội nào cũng bồ đề, tòa nào cũng Đa Bảo’ – (Thơ Từng Ôm Và Mặt Trời Từng Hạt) 2. Bài kệ Đã Về Đã Tới có thể được sử dụng trong khi ngồi, khi đi, khi làm việc, đã được Thầy Làng Mai phổ nhạc: Đã về, đã tới. Bây giờ, ở đây. Vững chãi, thảnh thơi. Quay về, nương tựa. Nay tôi đã về, nay tôi đã tới. An trú bây giờ, an trú ở đây. Vững chãi như núi xanh, thảnh thơi dường mây trắng. Cửa vô sinh mở rồi, trạm nhiên và bất động. 3. Tên một đại giới đàn diễn ra từ ngày 7 đến ngày 15 tháng 1 năm 2003 tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông 2002 - 2003.

2. Bài kệ Đã Về Đã Tới có thể được sử dụng trong khi ngồi, khi đi, khi làm việc, đã được Thầy Làng Mai phổ nhạc: Đã về, đã tới. Bây giờ, ở đây. Vững chãi, thảnh thơi. Quay về, nương tựa. Nay tôi đã về, nay tôi đã tới. An trú bây giờ, an trú ở đây. Vững chãi như núi xanh, thảnh thơi dường mây trắng. Cửa vô sinh mở rồi, trạm nhiên và bất động. 3. Tên một đại giới đàn diễn ra từ ngày 7 đến ngày 15 tháng 1 năm 2003 tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông 2002 - 2003.
4. Một tháp chuông thuộc Chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai.

Đài Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2006 (21 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng

3 năm 2007 (22 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Thanh Liên, pháp tự Chân Đài Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 422 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đài Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Đại Đồng (điện đường, tổ chức)
1. Một thiền đường thuộc tu viện Bích Nham, được sử dụng cho cả hai xóm Tùng Xanh và Hạc Trắng, có khả năng chứa được một ngàn người. Thiền đường do thầy Pháp Dung thiết kế và mới hoàn thành mùa xuân 2008.

2. Một tổ chức vận động bảo hộ môi trường ra đời rất sớm, vào năm 1969, do Thầy Làng Mai và một số thân hữu thành lập với sự bảo trợ của tổ chức FOR
(Fellowship of Reconciliation - tiếng Việt là Hội Thân hữu Hòa giải),trụ sở đặt tại Nyack, New York, Hoa Kỳ. Tổ chức bắt đầu bằng một buổi họp tại thành phố Menton, miền Nam nước Pháp, vào tháng 5 năm 1970 của sáu nhà khoa học, trong đó có Conrad A. Istock (Hoa Kỳ), Donald J. Kuenen (Hòa Lan), Pierre Lepine (Pháp), Klaus Meyer-Abich (Đức), Cao Ngọc Phượng (tức Sư cô Chân Không - Việt Nam) và Lawrence Slobodkin (Hoa Kỳ). Thành quả của buổi họp (kéo dài trong bốn ngày) là một bản tuyên cáo về tình trạng môi trường của trái đất, gọi là The Menton Statement, do sáu nhà khoa học kể trên ký tên. Tổ chức FOR do Alfred Hassler lãnh đạo đã gửi bản tuyên cáo này cho các nhà khoa học trên thế giới và sau đó tiếp thu được chữ ký của gần 4000 nhà khoa học từ 29 quốc gia. Một phái đoàn đại diện các nhà khoa học ấy cùng với đại diện tổ chức Đại Đồng đã có một buổi gặp gỡ với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc khi ấy là ngài U Thant để đệ trình bản tuyên cáo này. Năm 1972, Liên Hợp Quốc tổ chức một đại hội về môi trường tại thành phố Stockholm. Cùng thời gian đó, Đại Đồng (tiếng Anh là The Community of Men) cũng tổ chức một đại hội về môi trường song song với đại hội của Liên Hợp Quốc để cung cấp một diễn dàn tự do hơn. Đại hội Đại Đồng ở Stockholm khai mạc hôm 1.6.1972 và chấm dứt hôm 6.6.1972, có 31 đại biểu của 24 quốc gia tham dự, trong đó có những nhà khoa học nổi tiếng. Chủ tịch Đại hội là giáo sư Hannes de Graaf của Hòa Lan. Thầy Làng Mai đã có tên trong ban tổ chức Đại hội và đã tham dự với tư cách đại biểu cho Việt Nam. Đại hội này đã ra một Tuyên cáo Độc lập về Môi trường (An Independent Decleration on the Environment) nhằm ảnh hưởng tới đại hội của Liên Hợp Quốc được tổ chức từ ngày 5.6.1972 đến 17.6.1972. Sau đây là nguyên văn của bản tuyên cáo Mentonbản tuyên cáo độc lập về môi trường của Đại Hội Đại Đồng tại Stockholm.  Tuy Đại Đồng có tên tiếng Anh là The Community of Men nhưng các bạn trong ban tổ chức chỉ sự dụng danh từ Đại Đồng bằng tiếng Việt bởi vì tư tưởng Đại đồng Thế giới bắt nguồn từ tuệ giác châu Á.
Đại Hòa (cơ sở, điện đường) 
1. Khu nhà chính thuộc tu viện Bích Nham, là
nơi sinh hoạt chung chocả hai xóm Tùng Xanh và Hạc Trắng.2. Tên một thiền đường dành cho các sư cô tại xóm Hạc Trắng.
Đại trai đàn bình đẳng giải oan (nghi lễ) xem Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn
Đại trượng phu (bài hát) Một bài hát do Thầy Làng Mai viết lời và phổ nhạc. Cửa tùng đôi cánh khép. Một mũi tên sáng loáng lìa dây cung. Lao vút tới. Mặt trời nổ tung. Đầy sân hoa cam rụng. Phảng phất bóng vô cùng.
Đam mê
(thuật ngữ) Sự tham đắm, thèm khát và vướng mắc vào một trong những đối tượng của sáu giác quan.
Đám mây trong tờ giấy (thuật ngữ) Đây là một trong những hình ảnh mà Thầy Làng Mai hay sử dụng nhất để nói về tự tính duyên khởi, tương tức và tương nhập của sự vật trong thế giới hiện tượng. Nhìn vào tờ giấy, ta thấy được đám mây, bởi vì nếu không có đám mây thì sẽ không có mưa, mà không có mưa thì cây rừng sẽ không mọc được, và sẽ không có bột gỗ để làm giấy. Thiền tập là nhìn sâu để thấy được sự có mặt của vạn pháp trong một pháp: tờ giấy là tờ giấy, nhưng tờ giấy cũng chứa đựng đám mây, cũng là đám mây. Nếu lấy đám mây ra khỏi tờ giấy thì tờ giấy không còn. Nhìn vào tờ giấy ta còn thấy nhiều yếu tố khác nữa như ánh sáng mặt trời, đất rừng, v.v… Nếu không có đất, nếu không có ánh sáng mặt trời thì cây cũng không mọc và không lớn lên được, và sẽ không có cây để làm giấy. Thời gian, không gian, tốc độ vận chuyển, tàng thức, v.v... tất cả đều có mặt trong tờ giấy.
Đàm Nguyện (tên gọi) Một vị xuất gia nữ đang tu học theo pháp môn Làng Mai tại Hà Nội. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1954, tập sự xuất gia năm 1964 (10 tuổi),
thọ giới sa di ni ngày 20 tháng 10 năm 1971 (17 tuổi) tại chùa Phúc Tường – Thanh Hóa, với pháp danh Quảng Kiến, pháp tự Đàm Nguyện. Thọ giới thức xoa ma na năm 1973 trong đại giới đàn Quang Hoa. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 9 năm 1976 trong đại giới đàn Cổ Lễ được tổ chức tại Nam Định. Nhận truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích. Được Thầy Làng Mai truyền đăng với bài kệ truyền đăng như sau: Đàm  hoa thường nhuận sắc. Nguyện hải cánh do thâm. Giác tâm hương diệu khiết. Vạn đại khả truyền đăng. Là đệ tử của Sư Bà. Gốc chùa Từ Hiếu - Huế. Đến Làng Mai từ năm 1994. Ni sư Đàm Nguyện thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đạm Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 2007 (21 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 2 năm 2008 (22 tuổi) tại tu viện Bát Nhã - Việt Nam, pháp danh Tâm Quảng Pha, pháp tự Chân Đạm Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Là đệ tử thứ 495 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đạm Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đan Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2005 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng
1 năm 2006 (26 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Diệu Hòa, pháp tự Chân Đan Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 328   của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đan Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đán Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1991, tập sự xuất gia năm 2005 (14 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 10 tháng 5 năm 2006 (15 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Quảng Bích, pháp tự Chân Đán Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hải Đường. Là đệ tử thứ 385 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đán Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đàn Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 2001 (15 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 5 năm
2002 (16 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai với pháp danh Tâm Diệu Ân, pháp tự Chân Đàn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 147 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đàn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Là một trong những đệ tử trẻ tuổi của Sư Ông Làng Mai được Sư Ông Làng Mai đặt danh hiệu Baby Nun.
Đáo Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2005 (20 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8
tháng 1 năm 2006 (21 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Nguyên Quang, pháp tự Chân Đáo Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 329 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đáo Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đào Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Pháp, quốc tịch Pháp, sinh năm 1953, tập sự xuất gia năm 2003 (50 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 26 tháng 10
năm 2003 (50 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Transformation Liberatrice du Coeur, pháp tự Chân Đào Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Cẩm Lai. Thọ giới thức xoa ma na năm 2005 trong đại giới đàn Cổ Pháp. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 192 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đào Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đạo Bụt Bắc Truyền (thuật ngữ) danh từ để gọi Đạo Bụt Đại Thừa ở các nước miền Bắc khác với Đạo Bụt Nam Truyền là Đạo Bụt nguyên thủy (Tiểu Thừa) được thấy ở các nước miền Nam. Thật ra ở các nước theo Phật giáo đại thừa cũng có kinh điển về giáo lý nguyên thủy, và Đạo Bụt Nam Truyền cũng có ảnh hưởng của Đạo Bụt Đại Thừa. Lịch sử Phật giáo có thể chia làm ba thời kỳ: Đạo Bụt Nguyên Thủy, Đạo Bụt Bộ Phái và Đạo Bụt Đại Thừa. Đạo Bụt Bắc Truyền cũng như Đạo Bụt Nam Truyền đều phát xuất từ Đạo Bụt Nguyên Thủy và Đạo Bụt Bộ Phái. Về Đạo Bụt Bộ Phái ta có thể tham khảo sách Dị Bộ Tông Luân Luận, và bộ băng Thầy Làng Mai dạy về lịch sử Phật Giáo.
Đạo Bụt Nam Truyền  (thuật ngữ)  Xem Đạo Bụt Bắc Truyền.
Đạo Bụt nhập thế (thuật ngữ) Đạo Bụt thực tập không phải chỉ trong chùa viện mà còn trong mọi lĩnh vực của sự sống: giáo dục, xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế… còn được gọi là đạo Bụt dấn thân (engaged Buddhism) hay đạo Bụt đi vào cuộc đời (socially engaged Buddhism). Danh từ đạo Phật đi vào cuộc đời đã được dùng làm tựa đề một cuốn sách của Thầy Làng Mai do Lá Bối xuất bản ở Sài Gòn năm 1964. Sau đó các tổ chức Phật giáo như Buddhist Peace Fellowship ở Hoa Kỳ cũng bắt đầu sử dụng và áp dụng tinh thần này. Từ những năm 1930, các học giả như Nguyễn Trọng Thuật, Đồ Nan Tử trên tập san Phật Giáo Đuốc Tuệ đã bắt đầu xướng xuất Nhân Gian Phật Giáo. Đạo Bụt ở Việt Nam từ thời Lý Trần đã có khuynh hướng nhập thế, vua Trần Nhân Tông tức Trúc Lâm Đại Sĩ cũng đã hành động trong tinh thần ấy. Trong thời đại có chiến tranh ở Việt Nam (1954-1975) giáo lý và sự thực tập theo tinh thần đạo Bụt nhập thế được cụ thể hóa bằng phong trào Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và những hoạt động tranh đấu cho hòa bình và hòa giải dân tộc. Tạp chí National Geographic số tháng 12 năm 2005 đã đăng một bài của ký giả Perry Garfinkel nói về phong trào Đạo Phật Nhập Thế trên thế giới. Ông viết: “Ngày nay một Đạo Phật mới đang hình thành và lan rộng trên thế giới. Giáo lý của Đạo Phật này gây cảm hứng cho nhiều phương pháp trị liệu thân tâm và mở đường cho những chính sách cải cách chính trị và bảo vệ sinh môi. Các nhà thể thao biết sử dụng các phép tu để thành công hơn trong các cuộc thi đấu, các nhân viên cảnh sát sử dụng để vượt thắng những hoàn cảnh chống đối khó khăn, các bệnh nhân bị bệnh nan y sử dụng để có thể chịu đựng được dễ dàng hơn tình trạng bức xúc của các cơn đau nhức…”. Đạo tràng Mai Thôn, các tu viện và các tăng thân liên hệ trong hai mươi lăm năm nay đã tổ chức nhiều khóa tu cho giới tâm lý trị liệu, cho giáo chức, cho giới cảnh sát và an ninh, cho các nhà tranh đấu bảo vệ sinh môi, cho giới cựu chiến binh, cho giới làm phim ảnh, cho giới văn nghệ sĩ, cho giới sinh viên học sinh, cho thiếu nhi và cho giới doanh thương, v.v…Trong bài pháp thoại gần đây nhất nói bằng tiếng Anh tại Xóm Hạ, Làng Mai Pháp Quốc vào thứ năm ngày 20 tháng 4 năm 2008, Sư Ông Làng Mai cũng vẫn tiếp tục truyền đi nguồn cảm hứng về tinh thần nhập thế của Đạo Bụt hiện đại cho tứ chúng Làng Mai trong đó có rất nhiều quí thầy quí sư cô trẻ và các bạn thiền sinh Tây Phương. Toàn văn bài pháp thoại được đăng tải trên trang nhà Làng Mai www.langmai.org.
Đạo Nghiêm (tên gọi)  Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Pháp. Thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 12 năm 1999 tại chùa Từ Nghiêm – Làng
Mai, pháp danh Tâm An Lương, pháp tự Chân Đạo Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Anh Đào. Là đệ tử thứ 92 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đạo Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đạo Phật Áp Dụng Vào Đời Sống Hàng Ngày (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai viết chung với thầy Huyền Quang do Viện Hóa Đạo Sài Gòn xuất bản lần đầu năm 1973, được nhà xuất bản Lá Bối tái bản nhiều lần ở trong nước cũng như ở ngoài nước.
Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối ấn hành lần đầu năm 1964 tại Sài Gòn và đã được tái bản nhiều lần ở trong nước và ngoài nước. Đây là một trong những cuốn sách đã đưa tới phong trào đạo Bụt dấn thân (Engaged Buddhism) ở Việt Nam và trên thế giới, trong đó có Đạo Phật Ngày Nay, Đạo Phật Hiện Đại Hóa, Đạo Phật Ngày Mai, v.v…
Đạo Phật Hiện Đại Hóa (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn xuất bản năm 1965.
Đạo Phật Ngày Mai (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, ký bút hiệu Bsu Danglu (tên của một làng người Thượng ở B’lao, nơi tọa lạc Phương Bối Am) do nhà Lá Bối, Sài Gòn ấn hành năm 1970 (thời gian này, sách ký tên Nhất Hạnh không được phép xuất bản).
Đạo Phật Ngày Nay (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành lần đầu năm 1964 tại Paris và đã được tái bản nhiều lần ở trong nước và ngoài nước. Bản dịch tiếng Pháp dưới tựa đề Aujourd’hui le Bouddhisme. Sách đã được Thomas Merton điểm và giới thiệu.
Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, ký bút hiệu Thạc Đức, do Hội Phật Học Nam Việt xuất bản năm 1957, họa sĩ Lữ Hồ trình bày bìa, cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền viết lời giới thiệu. Sách này tập hợp lại những bài viết của Thầy Làng Mai trên nhật báo Dân Chủ do ông Vũ Ngọc Các làm chủ nhiệm, đăng ở trang đầu với tựa bài lớn in bằng màu đỏ. Báo bán rất chạy vì đất nước vừa bị chia cắt và lòng người rất hoang mang muốn đi tìm một hướng đi tinh thần cho cả nước khi các ý thức hệ bên ngoài bắt đầu tranh chấp tại Việt Nam. Viết vào năm 1955.
Đạo Phật Và Hướng Đi Nhân Bản Đích Thực (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn ấn hành năm 1966. Sách này tập hợp một số bài viết của Thầy Làng Mai trong tạp chí Hải Triều Âm cơ quan văn hóa và thông tin Của Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
Đạt Nghiêm (tên gọi)  Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Đạt Nghiêm. Người Việt Nam, quốc tịch Đức, xuất gia năm 2000 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất
gia Cây Bông Sứ.
Đắc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1949, tập sự xuất gia năm 2003 (54 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 13 tháng
12 năm 2003 (54 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Cao, pháp tự Chân Đắc Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Quế (Cinnamon). Thọ giới thức xoa ma na năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12  năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 196 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đắc Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đăng Nghiêm
(tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1990, tập sự xuất gia năm 2006 (16 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (17 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Thanh Nguyện, pháp tự Chân Đăng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 454 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đăng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đẳng Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1968, tập sự xuất gia năm 2000 (32 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 18
tháng 05 năm 2000 (32 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Phụng Hỷ, pháp tự Chân Đẳng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Bông Sứ. Thọ giới thức xoa ma na năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới. Thọ giới lớn ngày 9 tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới được tổ chức Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng: Công phu nương sức đẳng trì. Giới thân nghiêm túc uy nghi vững vàng. Đạo mầu nhiếp phục tâm an. Hạt từ gieo khắp nhân gian độ đời. Là đệ tử thứ 105 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đẳng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đây là tịnh độ (thuật ngữ, bài hát) 1. Tịnh độ bây giờ và ở đây. Đây là giáo lý và thực tập của Làng Mai liên hệ đến Tịnh độ. Căn cứ trên giáo nghĩa Duy Tâm Tịnh Độ (Tịnh độ trong lòng), các vị tổ sư ngày xưa, trong đó có vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sỹ dạy rằng: đối với hạng có căn trí cao thì Bụt A Di Đà là tự tính của mỗi người, và cõi tịnh độ có sẵn trong tâm của mỗi người, do đó nếu có niệm, định và tuệ thì ta có thể thấy được tịnh độ hiện tiền, và mỗi bước chân ta đi đều dẫm lên tịnh độ (mỗi bước chân đi vào tịnh độ, mỗi cái nhìn thấy được pháp thân – Nhật Tụng Thiền Môn 2000). Nhận thức này đi đôi tuyệt hảo với giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú và với phép tu chánh niệm ở Làng Mai.
2. Tên Một bài hát, lời của Thầy Làng Mai, sư cô Chân Không phổ nhạc: đây là tịnh độ, tịnh độ là đây. Mỉm cười chánh niệm, an trú hôm nay. Bụt là lá chín, pháp là mây bay, tăng thân khắp chốn, quê hương nơi này. Thở vào hoa nở, thở ra trúc lay. Tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày.
Đầu cành dương liễu (nhạc kinh)  Một bài nhạc kinh do sư cô Chân Quy Nghiêm phổ nhạc. Bài này có trong sách Thiền Môn Nhật Tụng Năm 2000. Đầu cành dương liễu vương cam lộ. Một giọt mười phương rưới cũng đầy. Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết. Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây. Nam mô Bồ Tát Thanh Lương Địa. Trí  tuệ bừng lên đóa biện tài. Đứng yên trên sóng sạch trần ai. Cam Lộ chữa lành cơn khổ bệnh. Hào quang quét sạch buổi nguy tai. Liễu biếc phất bày muôn thế giới. Sen hồng nở hé vạn lâu đài. Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh. Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay. Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm.  
Đầu Thôn (cơ sở) Một cư xá thuộc chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới, Làng Mai.


  Đế thính (thuật ngữ)  Xem lắng nghetruyền thông.
Để Bụt Thở (thi kệ) Một bài thi kệ đã sử dụng trong khi thực tập đi thiền, mới có từ mùa xuân 2007: 1. Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi. 2. Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi. 3. Bụt là thở, Bụt là đi, mình là thở, mình là đi. 4. Chỉ có thở, chỉ có đi, không người thở, không người đi. 5. An khi thở, lạc khi đi, an là thở, lạc là đi. Bài thực tập đi từ cái nhìn gần như nhị nguyên tới cái nhìn bất nhị. Ban đầu Bụt không phải là mình, kế đó Bụt là một phần của mình, kế đó nữa Bụt là mình bởi vì Bụt và mình cả hai đều vô ngã, và cuối cùng Bụt và mình đều là hơi thở và bước chân có tính cách an và lạc.          
Để Hiểu Đạo Phật (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, ký bút hiệu Phương Bối, do Phật Học Đường Trung Phần xuất bản năm 1959, họa sĩ Tạ Tỵ trình bày bìa.
Để Nuôi Lớn Hạnh Phúc Trong Thời Gian Ở Làng Mai (Cẩm nang tu học) Một tập sách chỉ dẫn thiền sinh cách thực tập ở Làng Mai để thời gian cư trú tại Làng Mai đem tới được nhiều hạnh phúc, trị liệu và chuyển hóa. Tập sách này được ấn hành năm 1999, trong đó gồm có các mục: Thực Tập Chánh Niệm, Sử Dụng Thi Kệ, Thiền Đi, Thức Dậy Buổi Sáng, Im Lặng Hùng Tráng, Làm Mới, Thân Thứ Hai, Thiền Buông Thư, Động Tác Chánh Niệm, Soi Sáng Cho Nhau, Điều Phục Cơn Giận hay Nỗi Buồn, Nghe Pháp Thoại, Pháp Đàm, Thiền Trà, Thiền Lạy, Hải Đảo Tự Thân, Ngày Làm Biếng, Thiền Ôm, và Đem Làng Mai Về Nhà. Tập sách được các vị giáo thọ của Làng Mai biên soạn. Phần đầu nói về Đạo Tràng Mai Thôn như sau: “Làng Mai là một trung tâm thiền tập tọa lạc tại miền Tây Nam nước Pháp được hình thành vào đầu năm 1982. Những năm đầu, nhiều cây hồng ăn trái (persimon) đã được trồng ở đây cho nên trung tâm được gọi là Làng Hồng. Nhưng sau đó, 1250 cây mai thuộc loại Pruniers d’Agen, rất ngọt và đậm đà, đã được trồng bằng tiền túi của các thiếu nhi gốc Việt Nam về tu học, cho nên Làng Hồng đã đổi tên thành Làng Mai, tiếng Pháp là Village des pruniers, tiếng Anh là Plum Trees Village, gọi tắt là Plum Village. Tên chữ của Làng Mai là Đạo Tràng Mai Thôn. Mấy năm đầu thì Làng Mai chỉ có hai xóm: Xóm Thượng và Xóm Hạ. Nhưng vì nhu yếu càng ngày càng lớn của thiền sinh nên đến nay đã có năm Xóm là Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Mới, Xóm Trung, Xóm Đoài.  Xóm Thượng  đã trở thành chùa Pháp Vân, tên chữ là Thệ Nhật Sơn Pháp Vân Tự, Xóm Hạ trở thành chùa Cam Lộ, tên chữ là Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự. Xóm Mới trở thành chùa Từ Nghiêm, tên chữ là Thiên Ý Thôn Từ Nghiêm Tự. Hiện giờ Xóm Mới đã có thêm Xóm Mới Đầu Thôn và Xóm Mới Lưng Đồi để đủ cung ứng nơi cư trú cho thiền sinh tới thực tập càng lúc càng đông. Ngoài ra, Xóm Mới cũng có thêm một ngọn đồi và một con suối gọi là đồi Dương Xuân và suối Dương Xuân, một niềm vui lớn cho các vị thường trú. Chùa Pháp Vân là thiền viện cho các vị xuất gia nam, chùa Từ Nghiêm và Chùa Cam Lộ là thiền viện của các vị xuất gia nữ. Trong số các thầy và các sư cô, có nhiều vị gốc Anh, gốc Pháp, gốc Hòa Lan, gốc Mỹ, gốc Ái Nhĩ Lan và Úc. Làng Mai cũng là trú xứ của Viện Cao Đẳng Phật Học, nơi đào tạo các vị giáo thọ xuất gia và tại gia. Số lượng các vị giáo thọ được đào tạo đã lên tới hơn hai trăm người, hiện đang có mặt giảng dạy và hướng dẫn các khóa tu trên thế giới, kể cả ở Việt Nam. Tại Đạo Tràng Mai Thôn, ngoài chúng xuất gia, cũng có chúng tại gia thường trú, tu học rất tinh chuyên. Tại Làng Mai có chương trình đào tạo các vị giáo thọ xuất gia và tại gia. Số lượng các vị xuất gia tại Làng Mai và tu viện Rừng Phong đã lên tới ba trăm vị. Có những khóa tu được tổ chức hàng năm: khóa mùa Đông (an cư kiết Đông) kéo dài ba tháng, bắt đầu từ giữa tháng mười một đến giữa tháng hai dương lịch; khóa mùa Hè kéo dài một tháng, từ giữa tháng bảy đến giữa tháng tám, giảng dạy bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Khóa này rất đông, thiền sinh từ khoảng 47 quốc gia tới, hè nào cũng trên bốn ngàn người, có khi cần đến trên 30 vị giáo thọ giảng dạy; lại có khóa bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày, giảng bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Ngoài ra, tuần nào cũng có hai ngày quán niệm (Chủ nhật và Thứ Năm), ta có thể đến tham dự pháp thoại, pháp đàm, thiền hành, thiền trà và ăn cơm chánh niệm. Để được tham dự các khóa tu, ta cần ghi danh trước”.
Đệ nhị thân (phép tu,thuật ngữ) Thân thứ hai. Tại Làng Mai, mỗi hành giả đều có thân thứ hai để chăm sóc gọi là đệ nhị thân. Người nào cũng có đệ nhị thân và người nào cũng là đệ nhị thân của một người khác. Hành giả phải chịu trách nhiệm về đệ nhị thân của mình, và nếu có ai hỏi về tình trạng của thân ấy, mình phải có khả năng cung cấp tin tức. Mình phải biết tình trạng sức khỏe, phẩm chất tu tập, những khả năng và những yếu kém của người ấy. Đến giờ ngồi thiền, đi thiền hoặc thọ trai, mình phải biết người ấy có mặt hay không, nếu không, mình phải biết lý do. Nếu người ấy bệnh, mình phải báo tin để người ấy được chăm sóc. Lên máy bay, xe buýt hoặc xe lửa, mình phải biết là người ấy đã có mặt trên máy bay hoặc trên xe chưa. Nếu mỗi người chăm sóc cho đệ nhị thân của mình thì cả tăng thân đều được chăm sóc.
Đi Gặp Mùa Xuân (sách) Một cuốn sách phiên tả từ băng giảng các bài pháp thoại của Thầy Làng Mai và các tin tức sinh hoạt của chùa Làng Mai. Nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 1999.
Đi Như Một Dòng Sông (sách) Một cuốn sách trích đăng các bài viết của Thầy Làng Mai từ Lá Thư Làng Mai số 25, kỷ niệm 20 năm thành lập Làng Mai, xuất bản tại Việt Nam năm 2002.
Điều Phục Cơn Giận (bài tụng) Một bài tụng được sử dụng trong các công phu sáng hoặc chiều tại các thiền viện, có thể dùng cho cả hai phái Thiền tông và Tịnh Độ tông. Đây là một trong những bài tụng mới nên chưa có trong sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 và Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn.
Điều phục tâm hành (phép tu) Là phương pháp thực tập sử dụng hơi thở và bước chân chánh niệm để chăm sóc và chuyển hóa những tâm hành trong ta. Có 51 loại tâm hành. Mỗi khi một tâm hành phát hiện, ta dùng năng lượng chánh niệm được chế tác bằng hơi thở và bước chân để nhận diện nó, trước hết là sự nhận diện đơn thuần. Buồn thì biết mình đang buồn, dùng ánh sáng ý thức để soi rõ và nhận diện nỗi buồn. Ta không nên đè nén cơn giận hay nỗi buồn. Ta phải cho phép chúng có mặt và ôm ngay lấy chúng bằng năng lượng chánh niệm. Có chánh niệm là có Bụt bảo hộ, ta đã được đặt vào một khung cảnh an toàn rồi. Chỉ thực tập thở và đi trong chánh niệm thôi, ta không nói hay không làm bất cứ một điều gì để phản ứng lại khi nỗi buồn hay cơn giận còn đó, bởi vì nếu ta phản ứng thì sẽ có thể gây đổ vỡ trong ta và người đối diện. Tiếp tục thở và đi trong chánh niệm, ta nhìn sâu vào tự tánh của niềm đau, nghĩa là những nguyên nhân xa gần đã làm nó phát khởi. Khi thấy được hạt giống giận hờn và tập khí hay nổi nóng trong ta, và khi thấy được rằng người kia cũng đang có nhiều khổ đau và tập khí, ta sẽ hết giận và thấy rằng chỉ có sự thực tập hiểu và thương mới giúp được cho ta và cho cả người kia. Trừng phạt không phải là giải pháp, dù sự trừng phạt ấy được thực hiện bằng lời nói hay bằng hành động. Khuynh hướng muốn trừng phạt người kia, làm cho người kia đau khổ để cho mình bớt khổ là khuynh hướng bạo động trong ta, ta phải thấy được điều này trong khi thực tập hơi thở và bước chân ý thức. Khi vui thì biết là mình đang vui, dùng năng lượng chánh niệm nhận diện niềm vui, thấy được nguyên nhân sâu xa của niềm vui trong ta để tiếp tục duy trì và phát triển niềm vui đó. Biết chăm sóc các tâm hành, ta sẽ chuyển hóa được những tâm hành bất thiện và nuôi dưỡng được những tâm hành thiện.
Định đề giáo lý Làng Mai (khóa giảng)  1. Hư không không phải là một pháp vô vi, hư không chỉ biểu hiện chung với thời gian, vật thể và tâm thức. 2. Về phương diện Tích Môn: tất cả các pháp đều là hữu vi. Về phương diện Bản Môn: tất cả các pháp đều là vô vi. 3. Niết Bàn là sự vắng mặt của vô minh và phiền não mà không phải là sự vắng mặt của uẩn, xứ và giới. 4. Niết Bàn là Niết Bàn, không hữu dư y cũng không vô dư y. 5. Niết Bàn có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại. 6. Niết Bàn không phải là một pháp mà là tự tánh của các pháp. 7. Vô sinh có nghĩa là Niết Bàn, có nghĩa là Chánh Giác, cùng với bất diệt, vô khứ vô lai, phi nhất phi dị, phi hữu phi vô. 8. Các định Không, Vô tướng, Vô Tác giúp ta tiếp xúc với Niết Bàn. 9. Những định căn bản là Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn. 10. Ba Pháp Ấn là Vô Thường, Vô Ngã, và Niết Bàn. Có thể nói tới bốn Pháp Ấn hay năm Pháp Ấn nếu trong đó có Pháp Ấn Niết Bàn. 11. Niệm, Định, Tuệ là sự thực tập nòng cốt để đi đến giải thoát. 12. Giới cũng là Niệm. 13. Cần (tinh tấn) cũng là Giới. 14. Niệm, Định, Tuệ tương dung, cả ba đều có công năng đưa tới hỷ lạc và giải thoát. 15. Chánh niệm về khổ đau giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và ngăn ngừa tạo tác lầm lỗi và gieo nghiệp nhân xấu. 16. Bốn diệu đế đều là hữu vi; Bốn diệu đế đều là vô vi. 17. Diệu đế thứ ba có thể gọi là Lạc đế. 18. Ý chí tự do có được là do Tam Học. 19. Nên nhìn tập đế là con đường của Bát Tà Đạo. Nguyên do sinh tử luân hồi không phải chỉ là ham muốn. 20. Vị A La Hán chân thực cũng là một vị Bồ Tát, vị Bồ Tát đích thực cũng là một vị A La Hán. 21. Hễ là người thì có thể là Bụt, là Bụt nhưng không ngừng làm người; do vậy có hằng hà sa số Bụt. 22. Bụt có nhiều thân: chúng sinh thân, pháp thân, thân ngoại thân, tăng thân, thừa kế thân, pháp giới thân và pháp giới tính thân. Người vì có thể là Bụt nên cũng có đầy đủ các thân ấy. 23. Có thể nói tới con người (pudgala) như một dòng ngũ uẩn liên tục (hằng) luôn luôn chuyển biến (chuyển) liên hệ tương duyên và trao đổi với các dòng hiện tượng khác, mà không thể nói tới con người như một cái ta biệt lập, bất biến và thường hằng. 24. Chỉ có thể hiểu luân hồi theo đệ nhất nghĩa trong ánh sáng của vô thường, vô ngã và tương tức. 25. Khổ lạc tương tức; phiền não và bồ đề đều có tính chất hữu cơ. 26. Tăng thân, Phật thân, Pháp thân tương tức. Trong chân Tăng có chân Phật và chân Pháp. 27. Vì phiền não và bồ đề đều có tính chất hữu cơ, nên sự thực tập cần được liên tục để mang tới chuyển hóa và giữ cho không đọa lạc. Luân hồi là sự tiếp nối: cái đẹp và cái lành cần được tiếp nối càng lâu, càng dài, càng tốt; cái xấu và cái dở cần được chuyển hóa để đừng tiếp tục; rác phải được sử dụng để nuôi hoa. 28. Giải thoát luân hồi không có nghĩa là chấm dứt một bổ đặc già la (pudgala) vốn không thật có, cũng không phải là chấm dứt giới thân tuệ mạng của một đời tu. 29. Sinh diệt chỉ là biểu và vô biểu. Biểu là biểu hiện, năng sở đồng thời. Trong khi có biểu này thì có vô biểu kia. Trong khi cái này cái này biểu thì cái kia vô biểu. 30. Pháp không phải là một sự vật, một cái, một thực thể, mà là một quá trình, một sự kiện đang xẩy ra, và trước hết là một đối tượng của tâm thức. 31. Báo thân gồm cả y lẫn chánh, cả cộng lẫn tự, ta bà của chúng sinh là tịnh độ của Bụt. 32. Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi. Có cái gọi là tương tức (samtati) nhưng cái tương tức nào cũng đều có tính tương tức. 33. Phật tử qua các thế hệ phải liện tục đối kháng lại hai khuynh hướng thần hóa và ngã hóa, biểu hiện những nhu yếu đại chúng nhất của con người. 34. Tàng thức có công năng học hỏi, huân tập, xử lý, lưu trữ, sắp đặt kế hoạch đối phó, bảo hộ, nuôi dưỡng, trị liệu và tiếp nối. Tàng thức có công năng thiết lập một kho tư liệu, những lề lối hành xử vô thức đã được sắp đặt sẵn, một chương trình tự động tự dẫn để chiếc thuyền có thể tự lèo lái mà không cần sự có mặt của một vị thuyền trưởng. 35. Mạt na có khuynh hướng tìm an ổn lạc thú bền bỉ, không thấy được luật tiêu thụ có chừng mực, không thấy được mục đích và sự nguy hại của sự tìm cầu dục lạc, không thấy được sự thiết dụng của khổ đau, sự cần thiết của tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức, từ bi và truyền thông. 36. Ý thức nhờ thực tập Giới, Định, Tuệ mà có thể học hỏi và chuyển xuống những kinh nghiệm và tuệ giác của mình cho tàng thức và giao cho tàng thức trách nhiệm làm chín muồi và phát hiện toàn diện những hạt giống tuệ giác đã có sẵn trong nó.
Định Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Pháp, sinh năm 1969, tập sự xuất gia năm 1993 (24 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 11
tháng 12 năm 1993 (24 tuổi) tại chùa Cam Lộ – Làng Mai, pháp danh Tâm Diệu Thu, pháp tự Chân Định Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Con Cá. Thọ giới lớn năm 1996 trong đại giới đàn Nến Ngọc được tổ chức tại Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 1999 trong đại giới đàn Tăng Hội với bài kệ truyền đăng: Định hướng thuyền đi trong vững chãi. Nghiêm trang lòng đất nở hoa trời. Đường xưa mây trắng còn nguyên vẹn. Âm điệu hòa chung khúc thảnh thơi. Là đệ tử thứ 20 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Định Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Sư cô nguyên là trụ trì chùa Từ Nghiêm thuộc Xóm Mới, Làng Mai (Pháp). Sư cô nói thông thạo ba ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp.
Điển Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1983, tập sự xuất gia năm 2005 (22 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng
8 năm 2005 (22 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Ngọc Minh, pháp tự Chân Điển Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 294 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Điển Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đóa Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2005 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 10
tháng 5 năm 2006 (26 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Bối Từ, pháp tự Chân Đóa Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hải Đường. Là đệ tử thứ 364 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đóa Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đoan Nghiêm (tên gọi)  Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Đoan Nghiêm. Người Việt Nam, quốc tịch Anh, sinh năm 1962, xuất gia năm 1990 tại Làng Mai,
nhận truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng: Chân giác vun trồng miền tuệ uyển. Đoan Nghiêm thuyền cặp bến thong dong. Công phu nở đóa sen ngàn cánh. Quê cũ vui chơi thỏa nguyện lòng.Là đệ tử thứ 05 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đoan Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đoàn tụ (lễ lược) Tên một đại giới đàn diễn ra từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 11 năm 2004 tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông 2004-2005.
Độ Nghiêm (tên gọi)Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Nga, Thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 12 năm 1999 tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp tự Chân Độ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Anh Đào. Là đệ tử thứ 93 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Độ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đôi mắt Của Bụt (khóa tu) Tên một khóa tu 21 ngày được tổ chức tại Làng Mai năm 2000.
Đối Thoại Cánh Cửa Hòa Bình (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai in chui tại Việt Nam năm 1967.
Đồi Mận (cơ sở) Một cư xá thuộc chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, Làng Mai.
Đông hùng tráng, xuân kiện hành (thuật ngữ)  Tên của khóa An Cư kiết đông từ 4.1.2004 đến 28.3.2004 tại tu viện Lộc Uyển, Escondido, tiểu bang California, Hoa Kỳ, có 238 vị xuất gia tham dự. Các vị xuất gia tại đạo tràng Mai Thôn và tu viện Rừng Phong đều quy tụ về đây để dự khóa an cư. Đại giới đàn Lâm Tế đã được tổ chức trong khuôn khổ của khóa tu này.
Đông Phương Luân Lý Học (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Hương Quê, Sài Gòn ấn hành năm 1950, họa sĩ Lê Văn Vinh trình bày bìa. Sách trình bày một môn luân lý học Phật giáo là Nhân Minh Học.
Đồng Châu (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, pháp tự Thông Nghĩa. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 với bài kệ truyền đăng như sau: Chuông sớm ngân nga
tiếng đại Đồng. Giọt vàng Châu báu điểm thinh không. Non cao sương tuyết lòng an định. Đường về Phương Bối bước thong dong.
Đồng Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, pháp danh Thông Đạt, được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như
sau: Đồng bang đồng Đạo lại đồng tâm. Ngàn miệng muôn lời xướng Phạm âm. Đường vui sương tuyết không ngần ngại. Trái đất cùng ca khúc đại đồng.
Đồng Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1988, tập sự xuất gia năm 2005 (17 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng
8 năm 2005 (17 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Nhật Thanh, pháp tự Chân Đồng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 303 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Đồng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đồng Phúc (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, pháp tự Minh Anh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Bên nhau hát khúc
Đồng tâm. Chồi non lộc mới Phúc phần tổ tiên. Đồi xuân nắng gọi chân truyền. Một nhà xum họp Tịnh Thiền không hai.
Đồng Thời Tương Ứng (thuật ngữ) Chủ đề của khóa An Cư Kết Đông từ ngày 14.11. 2007 đến ngày 15.2.2008 tại Đạo Tràng Mai Thôn, Pháp. Xem thêm Sư Tử Vàng.
Đồng Trung (tên gọi) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng Mai, Người Việt Nam, sinh năm 1973, tập sự xuất gia năm 1995, thọ giới Sa Di vào ngày 15 tháng 7 năm 1997 tại chùa Long Sơn - Nha Trang, pháp danh Đồng Trung, pháp tự Đồng Trung. Thọ giới lớn trong đại giới đàn Diệu Hoằng được tổ chức tại Đà Lạt. Là đệ tử của Thượng tọa Thích Đức Nghi. Đến Làng Mai từ năm 2005.
Đồng Từ (tên gọi) Một vị xuất gia nam đang tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1967, tập sự xuất gia năm 1988 (28 tuổi), thọ
giới Sa Di vào ngày 15 tháng 7 năm 1997 (30 tuổi) tại chùa Long Sơn - Nha Trang, pháp danh Đồng Từ, pháp tự Đồng Từ. Thọ giới lớn ngày 25 tháng 2 năm 1999 trong đại giới đàn Trí Thủ được tổ chức tại Đà Lạt. Là đệ tử của Thượng tọa Thích Đức Nghi. Gốc chùa An Lạc. Đến Làng Mai từ năm 2005. Thầy Đồng Từ thuộc thế hệ thứ 43 của dòng Chúc Thánh.
Động tác chánh niệm (thuật ngữ) Mười động tác thể thao thường được sử dụng ở Làng Mai để giúp làm thư giãn gân cốt sau những buổi sinh hoạt ngồi, hoặc giữa những buổi thiền đi. Những động tác này giúp cho tất cả các bộ phận của cơ thể được dịp vận động, mỗi động tác làm ba lần và làm trong chánh niệm, thường được thực tập chung toàn chúng.
Đời Của Phật (sách) Một cuốn sách về cuộc đời đức Phật của Thầy Làng Mai do Phật Học Đường Nam Việt xuất bản năm 1958.
Đời Sống Tâm Linh (sách) Một cuốn sách trích đăng các bài viết của Thầy Làng Mai từ Lá Thư Làng Mai số 27, in tại Việt Nam năm 2003.
Đức Nghi (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, thượng tọa Thị Cang. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 với bài kệ truyền đăng như sau: Kiếp kiếp trau dồi giới
Đức. Đời đời nghiêm hộ uy Nghi. Khơi mở dòng thiêng cam lộ. Hậu lai diệu pháp vĩnh kỳ.
Đức Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Anh, quốc tịch Anh, sinh năm 1949. Xuất gia đồng thời thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 1988 tại núi Linh
Thứu, Ấn Độ, pháp danh Tâm An, pháp tự Chân Đức Nghiêm. Thường gọi là sư cô Chân Đức hay sư cô Annabel. Sư cô nguyên là trụ trì tại Tu Viện Thanh Sơn. Nhận truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng: Chân như vằng vặc ánh trăng rằm. Đức độ cao dày nối tổ đăng. Chuyển hóa công phu trình thật tướng. Pháp mầu liên tục mãi tuyên dương. Là đệ tử thứ 02 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Chân Đức thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Đức Nguyên (tên gọi) Một vị xuất gia nữ đang tu học theo pháp môn Làng Mai tại Xóm Hạ, Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1976,
tập sự xuất gia năm 1991 (15 tuổi), thọ giới sa di ni năm 1992 (16 tuổi) tại thiền viện Liễu Đức, Long Thành, Đồng Nai, Việt Nam, pháp tự Đức Nguyên. Thọ giới thức xoa ma na năm 1996. Thọ giới lớn năm 1998 tại tổ đình Long Thiền, Biên Hòa, Đồng Nai. Nhận truyền đăng năm 2007 trong đại giới đàn Phương Bối được tổ chức tại tu viện Bát Nhã, Việt Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng với bài kệ truyền đăng như sau: Nhật dụng hành trì nuôi thật đức. Công phu thiền quán lộ chân nguyên. Cơ duyên hóa độ trong gang tấc. Mỗi bước chân đi mãn thệ nguyền. Là đệ tử của Ni trưởng Như Đạo, gốc thiền viện Liễu Đức, Long Thành, Đồng Nai. Đến Làng Mai (hoặc tu học theo pháp môn Làng Mai) từ năm 2005.




  Đức Niệm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như sau: Đức sáng nằm ngay trong đất tâm. Niệm lành vun tưới đã lên  mầm. Bồ đề cây ấy sum xuê lắm. Một sáng trần gian dậy tiếng tăm.
Đức Tạng (tên gọi) Một vị xuất gia nam đang tu học theo pháp môn Làng Mai tại chùa Pháp Vân – Pháp Quốc. Người Việt Nam, quốc tịch Canada, sinh năm 1988,
tập sự xuất gia năm 2002 (14 tuổi), thọ giới Sa Di vào ngày 26 tháng 3 năm 2004 (16 tuổi) tại tu viện Lộc Uyển – Hoa Kỳ, pháp danh Trung Lý, pháp tự Đức Tạng. Thọ giới lớn ngày 5 tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử của Thầy Pháp Hòa gốc tu việc Trúc Lâm – Canada. Đến Làng Mai từ năm 2006. Thầy thuộc thế hệ 43 tông Lâm Tế chánh tông.


Đức Thành (tên gọi)   Một vị xuất gia nam tu học tại Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Gia Nã Đại, sinh năm 1958, xuất gia năm 2000 tại Việt Nam.
Đức Phương (tên gọi) Vị Hòa thượng trú trì Diệu Đế Quốc Tự, Huế, nơi diễn ra Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan từ ngày 2 – 4 tháng 4 năm 2007.
Đừng bỏ gốc rễ
(phát biểu) Ngày 30 tháng 04 năm 2007 nhân dịp Thầy và phái đoàn Làng Mai viếng thăm nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình, Thầy Làng Mai đã có lời phát biểu sau đây về vấn đề gốc rễ, và sau đó là lời đáp của Linh Mục Phạm Ngọc Khuê. Thầy Làng Mai: “Kính thưa các bạn, tôi đã từng có dịp đọc Phúc Âm với con mắt của một thiền sư. Chúng tôi đã từng có giao lưu với các linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã từng sinh hoạt chung, những sinh hoạt này không phải chỉ là trao đổi ý kiến và kinh nghiệm mà còn là sống chung và tu tập chung. Chúng tôi xin phát biểu trên cơ bản đó. Chúng tôi cũng đã tham dự nhiều buổi họp, nhiều hội nghị đối thoại giữa đạo Phật, đạo Ki Tô và những đạo khác. Tôi nhớ ngày xưa có một thiền sư Việt Nam đã đọc kinh Dịch và đã trình bày kinh Dịch theo cái nhìn của một thiền sư. Ngày xưa tôi đã hứa với một số các bạn trẻ là sẽ trình bày Phúc Âm qua cái nhìn của thiền quán và may mắn là tôi đã làm được việc đó. Trong thời gian 40 năm ở nước ngoài chúng tôi đã từng ngồi thiền với các vị linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã cùng hoạt động cho hòa bình, và trong khi hoạt động cho hòa bình chúng tôi có cơ hội chia sẻ với nhau những tuệ giác của chúng tôi về truyền thống mình. Trong quá trình giao lưu, tôi có viết được những tác phẩm có tính cách đối thoại giữa những người theo Phật giáo và những người theo Ki Tô giáo. Cuốn sách đầu tiên mà chúng tôi xuất bản về đề tài này là “Living Buddha, Living Christ”. Bản Hoa Ngữ mang tên là “Sinh Sinh Ki Tô, Thế Thế Phật” dịch ra tiếng Việt là: “Bụt Ngàn Đời, Chúa Ngàn Đời”, nghĩa là “Bụt Bất Tử, Chúa Bất Tử.” Cuốn sách đó là kết quả của một khóa tu mà chúng tôi tổ chức tại Đức, trong đó có 50% là Phật tử và 50% là tín hữu Ki Tô giáo. Chúng tôi đã gom lại những bài thuyết giảng và làm thành cuốn sách  Living Buddha, Living Christ. Cuốn sách này đã đi rất xa, đã đi vào các tu viện kín và chúng tôi cũng đã nhận được rất nhiều thư  các Cha và các Xơ từ các tu viện kín. Cuốn sách đó giúp cho người Phật Tử hiểu thêm đạo Ki Tô và giúp người Ki Tô hiểu thêm về đạo Phật. Công đức của sách này rất lớn. Ban đầu người ta đọc chỉ vì tò mò thôi, nhưng nhờ sự tò mò đó mà có cơ hội hiểu được một nền đạo đức mà lâu nay mình chỉ có một ý niệm  mơ hồ. Sau cuốn Living Buddha, Living Christ thì chúng tôi có cuốn Going Home, Buddha and Jesus as Brother. (Chúng ta hãy về nhà đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em). Sách này cũng được đón nhận một cách rất nồng nhiệt ở trong giới độc giả Tây Phương, Phật Tử cũng như Cơ Đốc giáo. Ở Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp, mỗi năm đến ngày giáng sinh, chúng tôi luôn luôn tổ chức lễ Giáng Sinh rất long trọng, tại vì đa số các thiền sinh  đều có nguồn gốc Ki Tô giáo. Ngày giáng sinh rất nhiều thiền sinh Tây phương về Đạo Tràng Mai Thôn như con cháu về nhà tổ phụ. Vì vậy vào đêm Giáng Sinh tôi luôn luôn  giảng một bài về Phật và về Chúa. Tôi nhớ có một linh mục tên là Thomas Kwan người Hồng Kông đã được nghe một bài như vậy và vị linh mục này thấy rất tiếc, vì hôm đó chỉ có 600 người được nghe. Linh mục nói: “Tất cả các tín hữu Cơ Đốc giáo trên thế giới phải được nghe bài này. Để có thể thấy rõ Chúa và con đường của mình hơn”. Tôi đã sưu tập được 10 bài giảng Giáng Sinh như thế, làm được cuốn sách thứ hai gọi là “Chúng ta hãy về nhà đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em”. Rất tiếc là hai cuốn nói trên chưa được dịch ra tiếng Việt. Những người đến với chúng tôi trong các khóa tu tại Mỹ Châu và Âu Châu, đại đa số là những người tín đồ Công giáo, Tin Lành và Do Thái giáo. Chúng tôi khuyên họ không nên bỏ đạo gốc của mình. Chúng tôi biết do kinh nghiệm khi một con người mất gốc thì người đó không bao giờ có hạnh phúc thật sự được. Vì vậy khi họ tới thực tập theo pháp môn của đạo Phật chúng tôi  yêu cầu họ đừng bỏ gốc rễ của họ và khuyên họ sau khi tu tập thành công rồi, khi đã chuyển hóa được những bức xúc, khó khăn và giận hờn rồi thì hãy về với truyền thống của mình và hãy giúp truyền thống mình làm mới lại. Thanh niên bây giờ thấy được là giáo đường, nhà thờ chưa cung cấp được những giáo lý và những thực tập có thể đáp ứng được những khổ đau, những bức xúc của họ. Vì vậy không chỉ đạo Phật phải làm mới mà đạo Ki Tô cũng phải làm mới  thì mới đáp ứng được những nhu yếu của người trẻ hôm nay. Giới trẻ hôm nay bỏ nhà thờ mà đi rất đông. Điều tôi nói cũng rất trung thực với giáo lý của Phật tại vì Phật giáo luôn luôn có thái độ rất cởi mở, phá chấp. Mình không nên bám víu một giáo điều cho đó là chân lý tuyệt đối và để rồi xem  các giáo lý khác là tà đạo. Vì vậy thái độ của người Phật Tử là giang tay ra ôm lấy tất cả mọi người. Tình yêu trong đạo Phật là “Từ, Bi, Hỷ, Xả.” Xả có nghĩa là inclusiveness, không loại trừ bất cứ người nào ra khỏi tình thương của mình, dù người đó không phải là đồng bào của mình, không phải theo tôn giáo của mình.  Tiếng pháp dịch là équanimité. Tôi quyết hành động theo tinh thần này tại vì hồi xưa các giáo sĩ tới Việt Nam truyền đạo đã bắt người Việt mình phải bỏ đi tôn giáo gốc của mình và điều đó đã gây đau khổ kkhông ít. Những người có gốc gác Cơ Đốc giáo tới tu tập với chúng tôi rất hạnh phúc vì họ có cảm tưởng là họ được công nhận 100%, họ không cần phải từ bỏ niềm tin của họ, gốc gác văn hóa của họ. Sau một thời gian thực tập, họ có thể thấy, khám phá ra được những châu báu trong truyền thống của họ mà trước đây họ chưa thấy. Nhờ tiếp xúc với đạo Phật mà họ trở về và khám phá ra những châu báu trong các gia sản tâm linh ở Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Điều đó làm chúng tôi rất vui mừng. Chúng tôi thường hay nói với các bạn Cơ Đốc giáo là cõi Tịnh Độ hay cõi Niết Bàn có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta có trái tim tinh khiết, trái tim có năng lượng của niệm, định và tuệ, nếu chúng ta có mặt đích thực trong giây phút hiện tại thì chúng ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của thế giới Cực Lạc, của Tịnh Độ có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Chúng ta không cần phải chết đi mới sinh về Tịnh Độ, mà có thể đi vào trong Tịnh Độ bằng mỗi bước chân, ngay bây giờ và ở đây. Giáo lý ấy được thực tập tại Mai Thôn Đạo Tràng, và chúng tôi cũng đã chia sẻ cho các bạn Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Chúng tôi nói rằng các bạn không cần phải chết đi mới đi về nước Chúa. Nếu các bạn có tình thương, có ý thức sáng tỏ, có tâm rộng mở thì mỗi hơi thở và mỗi bước chân có thể đưa các bạn vào nước Chúa trong giây phút hiện tại. Thiên Quốc có mặt trong giây phút hiện tại. Trong đạo Phật các vị tổ có nói rằng Tịnh độ và Phật nằm trong trái tim của mình. Phúc Âm cũng nói như thế, Thiên Quốc nằm trong trái tim của mình và vì vậy mình đi tìm thiên quốc hay tịnh độ nơi khác và thời khác thì có thể sai. Khoa học lượng tử bây giờ bắt đầu dùng danh từ phi cục bộ, tiếng Anh là “non-local”. Cái thực tại lượng tử là phi cục bộ, chúng ta không thể nào xác định vị trí của một lượng tử trong thời gian hoặc không gian. Bản chất của lượng tử là phi cục bộ. Chúng tôi nghĩ rằng ngôn ngữ ấy chúng ta có thể áp dụng cho Phật Độ và cho Thiên Quốc. Thượng Đế hay Thiên Quốc là những thực tại phi cục bộ, chúng ta không thể xác định vị trí của nó trong không gian và thời gian, tại vì nó nằm trong trái tim của mình. Khi trái tim của mình đã sẵn sàng rồi thì là mình đang ở trong Thiên Quốc, đang ở với Thượng Đế, không cần phải trông chờ điều đó trong tương lai. Chúng ta tu như thế nào, thực tập như thế nào để Thiên Quốc có mặt trong giây phút hiện tại. Chúng ta tu như thế nào, thực tập thế nào để tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Và hạnh phúc không cần chờ đến tương lai. Hiện pháp lạc trú là một giáo lý Phật giáo. Nhà văn André Gide có nói một câu làm tôi rất thích. Ông nói Thượng Đế tức là hạnh phúc (Dieu est bonheur). Và ông nói thêm một câu nữa: “Thượng Đế có mặt cho chúng ta 24 giờ một ngày ...”.  Những câu nói đó rất phù hợp với giáo lý đạo Phật. Nếu chúng ta đi sâu vào Phúc Âm, chúng ta cũng thấy chân lý đó, nghĩa là nếu chúng ta đem tâm trở về với thân mà nhận diện được tất cả những cái mầu nhiệm đang có mặt trong ta và xung quanh ta thì lúc đó ta đang ở trong Thiên Quốc và ta đang tiếp xúc sâu sắc với Thượng Đế. Nếu nhà thờ và nhà chùa có thể cung cấp được những giáo lý đó và đưa ra những phương pháp thực tập để con người có thể sống an lạc và hạnh phúc trong giây phút hiện tại thì người ta sẽ không cần đi tìm hạnh phúc ở sắc dục, tiền tài và danh vọng. Trong Phúc Âm có câu chuyện một bác nông phu khám phá ra được một kho tàng chôn giấu ở trong một đám ruộng và sau đó đi về và bán đi những khu ruộng khác để chỉ mua một đám ruộng đó. Khi chúng ta đã tu và tiếp xúc được với nước Chúa và Chúa rồi thì chúng ta đâu cần những cái khác nữa, chúng ta đâu cần danh, không cần lợi, không cần sắc dục, không cần quyền lực, vì chúng ta đã hạnh phúc chán. Vì vậy cái giáo lý nào và sự thực tập nào giúp cho ta tiếp xúc được với Thiên Chúa trong giây phút hiện tại thì đó là kho tàng châu báu của chúng ta. Hạnh phúc ấy chúng ta có thể đạt được trong giây phút hiện tại, không cần phải chết đi mới có. Nói chuyện với các bạn Do Thái giáo và Ki Tô giáo chúng tôi cũng chia sẻ cách thực tập, mỗi hơi thở mỗi bước chân của mình có thể đưa mình vào Thiên Quốc mà đừng trông chờ Thiên Quốc ở tương lai. Tôi nhớ có một lần thăm viếng Đại Hàn tôi được tham dự vào một buổi giao lưu giữa người Ki Tô giáo và người Phật tử: đó là lần đầu tiên mà người Phật tử và người Cơ Đốc giáo tới với nhau. Tôi có đưa ra vấn đề có những thanh niên thiếu nữ khác tôn giáo yêu nhau. Bên này bắt bên kia phải bỏ đạo, phải chọn lựa. Đó là một  vấn đề còn tồn tại ở nhiều nước và ngay trong nước Việt Nam chúng ta. Và biết bao nhiêu cặp thanh niên thiếu nữ đã đau khổ tại vì thế. Tôi nghĩ rằng một người có thể rất hạnh phúc khi có hai gốc rễ, một gốc rễ Cơ Đốc giáo và một gốc rễ Phật giáo. Hai cái đó không nhất thiết phải loại trừ nhau. Tại vì mình hẹp hòi cho nên mình mới thấy hai cái khác nhau chống đối nhau. Nhưng nếu mình vượt lên, thấy được hai truyền thống có thể bổ túc cho nhau thì mình sẽ có một thái độ cởi mở hơn. Trong số các đệ tử của tôi có rất nhiều các thầy các sư cô có gốc Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, nhưng họ hạnh phúc vô cùng khi được tu tập và ôm ấp luôn cả hai truyền thống. Ngay trong phái đoàn của chúng tôi  có mặt hôm nay có một vị đại đức ngày xưa đã từng làm linh mục. Vị linh mục đó tới với đạo Phật và khám phá ra những phương pháp thực tập rất thiết thực có thể thực hiện được lý tưởng của Cơ Đốc giáo. Chúng ta thấy có hai gốc rễ đôi khi lại hay hơn có một gốc rễ và vì vậy ngay trong đại hội đó tôi đã đề nghị khi hai thanh niên yêu nhau, một người thuộc về Cơ Đốc giáo, một người thuộc về Phật giáo thì cả hai gia đình nên cho họ cưới nhau với điều kiện hai bên công nhận truyền thống của người bên kia và nếu người con trai là Cơ Đốc giáo và người con gái là Phật giáo thì người con gái phải học thêm Cơ Đốc giáo và người con trai phải học thêm Phật giáo. Và đến ngày chủ nhật thì hai người cùng đi nhà thờ, đến ngày mồng một và ngày rằm thì hai người cùng đi Chùa. Và điều đó là điều chúng tôi đã thực hiện được ở Tây phương. Tại sao chúng ta phải để cho các bạn trẻ tiếp tục đau khổ năm này qua năm khác? Và đó là tinh thần cởi mở mà chúng tôi đã thấy được rõ ràng khi đọc kinh Phật và kinh Thánh. Hôm nay tôi xin nói ra vài cái thấy của tôi cũng như một món quà hiến tặng quý vị có mặt ở đây. Sư cô Chân Không hỏi: Như Thầy Làng Mai đề nghị tức là khi một người Công giáo và một người Phật giáo thương yêu nhau thì người Phật tử nên học hỏi những gì tinh ba nơi Công giáo và gia đình phải đi nhà thờ vào những ngày chủ nhật và đi chùa vào mồng một và ngày rằm. Con xin hỏi là quý vị linh mục có chấp nhận được như vậy không? Hay là người Phật tử chỉ phải theo đạo của  người chồng, phải làm lễ rửa tội và phải từ bỏ đạo Phật? Con xin hướng câu hỏi này về cho các vị tôn đức bên phía Công giáo. Cha Phạm Ngọc Khuê trả lời: “Đây là một câu hỏi có thể nói là thật sự rất tế nhị và rất thời sự. Trước hết tôi xin được nêu lên nguyên tắc về giáo luật và kinh thánh. Thiên chúa không bao giờ ngăn cản con người tự nguyện, nhất là trong việc hôn nhân gia đình thì không có bao giờ ngăn cản hai người thương yêu nhau. Giáo hội không bao giờ chặn ngăn hai người nam nữ yêu thương và tiến tới hôn nhân với nhau, điều đó là chắc chắn thuộc về giáo luật, không ai có quyền ngăn cản tình yêu của họ, vì đó là tuyệt đối. Nhưng tại sao lại xảy ra cái vấn đề giữa nam nữ tín đồ các tôn giáo khác nhau lại có những vấn đề mà người ta chưa đi đến chỗ kết hôn với nhau thì do đâu? Trong thực hành việc phục phụ hôn phối, đối với anh em trong Công giáo chúng tôi, đối với danh Chúa, đối với người tín đồ Công giáo cũng như giáo hội thì chúng tôi không bao giờ đặt vấn đề là phải trở thành người Công giáo thì mới có thể cưới (nhau) về phía Công giáo của mình (trở thành vợ chồng). Không bao giờ có vấn đề đó, chúng tôi luôn luôn tôn trọng tình yêu của họ. Và tôi nói với người nam hoặc người nữ là tình yêu của các anh chị là tình yêu tuyệt đối và chúng tôi tôn trọng. Tuy nhiên khi hai người quyết định yêu thương nhau thì đức tin của người tín đồ Ki Tô giáo cũng như Phật giáo phải được tôn trọng bởi sự tự do của họ. Cũng như Thầy Thích Nhất Hạnh đã nói là họ phải sống cội rễ của họ thì họ mới thấy hạnh phúc. Và cái việc họ được chịu phép rửa tội là hoàn toàn tự do. Cho nên giáo hội chỉ nói một điều này. Khi tiến tới hôn nhân thì hai người phải hứa là tôn trọng  quyền lợi của nhau và niềm tin của mỗi người, và không được vi phạm. Vì vậy về phía tín đồ tôn giáo khác phải cam đoan, có thể nói là tuyên thệ tôn trọng niềm tin vì đó là lãnh vực thiêng liêng và tự do tôn giáo, không ai được can thiệp. Tôn trọng niềm tin của tín đồ thiên chúa giáo, không được ngăn cản. Nếu họ giữ được như thế thì cuộc hôn phối đó được tốt đẹp và thành sự trước mặt Chúa và trước luật pháp. Luật thì như vậy, nhưng trong thực tế thì không luôn luôn được xảy ra như vậy. Hoàn cảnh của Việt Nam thì khác nữa, nghĩa là trong hoàn cảnh rơi rớt của chế độ phong kiến vẫn còn nhiều cho nên quý vị biết rõ là ở Việt Nam người nam có quyền hơn người phụ nữ. Mặc dù họ hứa như vậy, nhưng khi về nhà mà hai vợ chồng không có hòa thuận với nhau, cơm không lành, canh không ngọt. Khi họ sống chung với nhau và nếu như có chiến tranh trong gia đình thì họ đổ lỗi trên đầu người tín đồ của mình, hoặc người Ki Tô giáo hoặc người Phật giáo, tôi không nói là về phía này hay phía kia. Nếu người chồng có quyền thì sẽ buộc người vợ không theo tín đồ của mình, theo tôn giáo của mình nữa, và có thể có khó khăn trong gia đình. Chính vì vậy mà Giáo Hội đặt ra điều kiện là nếu một người tín đồ tôn giáo khác lấy một người Công giáo, rồi sau đó người tín đồ tôn giáo khác đó không giữ lời tuyên thệ trung thành thì người tín hữu Công giáo có thể trình lên thẩm quyền nguồn Thánh, có thể tháo cái hôn phối mà người ta đã cam kết chỉ vì nếu mà đe dọa đến niềm tin tự do của tín đồ thì giáo hội phải bảo vệ con cái của mình. Quý vị phải hiểu đây không phải là bắt buộc phải làm. Các gia đình đó là do truyền thống của gia đình, hoàn cảnh của gia đình muốn con cái của mình giòng sớ, cũng như quý cô, quý ông bà cũng như quý vị muốn cho gia đình mình cùng một chiều cho dễ, để việc đó cho dễ hơn. Về phía giáo hội thì không đứng ra ngăn cản việc hôn nhân của họ. Xin quý vị hiểu rõ là về luật giáo không ép buộc người ta bỏ tôn giáo của mình mà ngược lại là buộc một trong hai người phải tôn trọng tôn giáo của nhau. Phải dành ưu tiên nhất cho người bạn đời theo tôn giáo đó để thực hành niềm tin tôn giáo mà không ngăn cản họ giữ đức tin riêng của họ. Đừng Quên, Xin Đừng Vội Quên (sách) Một tập sách mỏng của Thầy Làng Mai do Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh Sài Gòn ấn hành năm 1965, gây cảm hứng cho người trẻ tham dự vào hoạt động chấm dứt chiến tranh.
Đường Chánh Niệm (địa danh) tiếng anh là Mindfulness Road. Tên
con đường chạy qua tu viện Bích Nham, tiểu bang New York, Hoa Kỳ. Trước đó tên là Đường Khách sạn (Hotel Road), sau khi tu viện Bích Nham được thành lập, thành phố đã cho phép đổi tên thành Đường Chánh Niệm.
Đường Hoa Thủy Tiên (sách) Một cuốn sách đăng các bài pháp thoại của Thầy Làng Mai, in tại Việt Nam vào khoảng năm 1991.
Đường Về Vườn Nai (sách, cẩm nang tu tập) 1. Một cuốn sách phiên tả từ băng các bài giảng của Thầy Làng Mai cho khóa tu Gia Đình Phật Tử tại Hoa Kỳ năm 1997, được in tại Việt Nam năm 2003. 2. Một tập sách mỏng (cẩm nang tu tập) chỉ dẫn thiền sinh cách thực tập ở Tu Viện Lộc Uyển, để thời gian cư trú tại Tu Viện đem tới được nhiều niềm vui, trị liệu và chuyển hóa. Tập sách do các thầy và các sư cô giáo thọ ở Tu Viện Lộc Uyển biên soạn, nội dung cũng tương tự như tập sách Để Nuôi Lớn Hạnh Phúc Trong Thời Gian ở Làng Mai. Đoạn đầu giới thiệu vài nét về Tu Viện Lộc Uyển như sau: “Deer Park là tên một thung lũng ẩn mình giữa những sườn đồi phía Tây Bắc thành phố Escondido, thuộc quận San Diego, tiểu bang California, với diện tích 434 mẫu Anh, có cảnh núi đồi hùng vĩ và những rừng cây cho nhiều bóng mát. Cách đây hơn hai ngàn sáu trăm năm, tại vườn Lộc Uyển, xứ Isipatana gần Benares (Ba La Nại), đức Bụt lần đầu tiên chuyển bánh xe pháp khai thị cho năm anh em ông Kiều Trần Như con đường đưa đến giác ngộ và giải thoát. Do một cơ duyên mầu nhiệm, hai ngàn sáu trăm năm sau, bánh xe pháp tiếp tục được luân chuyển tới một vùng đồi núi có cùng tên Lộc Uyển - Deer Park. Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng đoàn Tu Viện Lộc Uyển cùng với sự ủng hộ của tứ chúng ở khắp nơi đã xây dựng nên một trung tâm tu học nơi đây. Tu viện đã chính thức được thành lập vào tháng 06 năm 2000. Đây là một sự sắp xếp của chư Tổ và ông bà tổ tiên người Hoa Kỳ cũng như người Việt. Tu viện gồm có hai xóm: Xóm Vững Chãi (Solidity Hamlet) dành cho quý thầy, vùng đất nằm phía trên đỉnh đồi và Xóm Trong Sáng (Clarity Hamlet) dành cho quý sư cô, vùng đất dưới đồi xanh mát. Cơ sở tuy còn đơn sơ, phòng ốc còn thiếu tiện nghi, nhưng với những bàn tay và tấm lòng của quý thầy, quý sư cô và các vị thân hữu trong vùng, và với năng lượng tu tập hàng ngày, tu viện đã trở thành một nơi nương tựa cho tứ chúng về tu học. Với trên 30 vị xuất gia thường trú, tu viện đã thường xuyên tổ chức các khóa tu học hàng năm như khóa An Cư Kiết Đông từ tháng 12 đến cuối tháng 02 dương lịch, khóa Mùa Xuân từ tháng 03 đến tháng 07 dương lịch, trại Hè dành cho các em thanh thiếu niên (Teenage Mindfulness Camp) vào cuối tuần lễ Độc Lập của Mỹ (ngày 04 tháng 07), và khóa Mùa Thu dành cho người Việt vào tuần lễ đầu của tháng 09. Ngoài ra mỗi tuần Tu viện còn cung cấp hai ngày quán niệm (Thứ Năm và Chủ Nhật) cho thiền sinh đến nghe pháp thoại, tham dự pháp đàm, thiền tọa, thiền hành, thiền trà và ăn cơm chánh niệm. Về đến Lộc Uyển là về tới nhà, ngôi nhà tâm linh của tất cả mọi người. Vào những buổi sáng sớm leo lên đỉnh núi, ngồi tọa thiền trên những phiến đá bằng phẳng, tiếp xúc với đất trời và không khí trong lành, chúng ta sẽ có cơ hội trở về với chính mình trong giây phút hiện tại. Xin chúc quý thân hữu xa gần về đây có được những ngày tu học thật an lạc và thảnh thơi”.
Đường Xưa Mây Trắng – theo gót chân Bụt (sách, kịch) 1. Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành lần đầu năm 1988, sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần ở các nước. Cuốn sách về cuộc đời của Bụt và hiện đang được công ty M Corp Global dựng thành phim. Bản dịch tiếng Anh với tựa đề Old Path White Cloud; bản dịch tiếng Hoa Cổ Đạo Bạch Vân. Sách này dựa trên các kinh và luật của Phật Giáo Nguyên Thỉ trong tạng Pali cũng như trong tạng Hán và mỗi chương đều có ghi xuất xứ của tài liệu sử dụng. Trong tư liệu là Nguyên Thỉ nhưng cái nhìn là cái nhìn phóng khoáng của Đại Thừa, vì thế độc giả của cả Phật giáo Bắc Tông và Nam Tông đều cảm thấy thoải mái khi đọc. Đọc xong về cuộc đời của Bụt thì ta cũng tiếp nhận xong được những giáo lý căn bản nhất của Bụt dạy. Ấn bản tiếng Pháp (Sur les traces de Siddhartha) có in câu ấy ngoài bìa: ‘‘Découvir l’enseignement du Buddha en cheminant à ses côtes.”  2. Tên vở kịch được đoàn kịch Biloxi 48 dàn dựng dựa trên nguyên tác Đường Xưa Mây Trắng – theo gót chân Bụt của Thầy Làng Mai. Kịch bản và đạo diễn : nghệ sỹ Christine Delmotte với sự cộng tác của người bạn đồng nghiệp tài danh giáo sư Paul Edmond. Nghệ sỹ Christine Delmotte đã làm việc miệt mài suốt ba năm để có thể hoàn thành vở kịch – ‘vở kịch nói về đạo Bụt mà cô vẫn từng ao ước được thực hiện’ – và để qua đó trình bày lên sân khấu tất cả cái đẹp về tuệ giác đạo Bụt thể hiện qua con người thái tử Tất Đạt Đa cũng như những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong cuộc đời Bụt