|
Ba cảm thọ (pháp số) Cảm thọ thứ nhất là lạc thọ -cảm giác dễ chịu. Cảm thọ thứ hai là khổ thọ -cảm giác khó chịu. Cảm thọ thứ ba là xả thọ - cảm giác trung tính, không khó chịu cũng không dễ chịu và cũng có thể chuyển thành khổ thọ hay lạc thọ. Cảm thọ có thể có nguồn gốc sinh vật lý hay tâm lý. Cảm thọ là lĩnh vực quán chiếu thứ hai được đề cập tới trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở và Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm. Ở Làng Mai, chánh niệm được thực tập thường xuyên để có thể nhận diện và chuyển hóa các cảm thọ theo hướng tích cực, chuyển hóa một xả thọ hay khổ thọ thành một lạc thọ. Ví dụ, nhức răng là một khổ thọ. Khi quán chiếu cảm thọ đó “Tôi đang thở vào và biết rằng tôi đang nhức răng. Tôi đang thở ra và mỉm cười với cái răng nhức của tôi”, ta thấy rằng không nhức răng là một hạnh phúc. Bình thường ta cho tình trạng không nhức răng là một xả thọ. Khi bị nhức răng, ta mới khám phá ra rằng không nhức răng quả là một lạc thọ, tức là khi đó một xả thọ, nhờ có yếu tố chánh niệm, đã chuyển thành một lạc thọ.
Ba học (pháp số) Giới, định và tuệ hoặc niệm, định và tuệ. Còn gọi là tam vô lậu học – ba phép thực tập giúp cho mình không còn sa đọa
Ba lạy (pháp số, phép tu) 1. Một pháp môn thực tập của Làng Mai. 2. Sự thực tập lạy xuống (tiếng Anh là Touching The Earth) để buông bỏ, chuyển hóa và đạt tới vô sinh. Lạy thứ nhất : Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với tổ tiên và con cháu của con trong hai dòng tâm linh và huyết thống. Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, các vị bồ tát, các vị thánh tăng và các vị tổ sư qua các thời đại, trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã truyền trao cho con những hạt giống bình an, trí tuệ, tình thương và hạnh phúc. Nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, tuệ giác và từ bi. Trong dòng tổ tiên tâm linh của con, có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi viên mãn, nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên con cúi đầu nhận chịu tất cả là tổ tiên tâm linh của con, vì chính trong con cũng có những yếu đuối, những khiếm khuyết về giới hạnh, trí tuệ và từ bi. Và cũng vì con biết trong con còn có những yếu đuối và khiếm khuyết ấy cho nên con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con, trong đó có những người mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi đáng cho con kính ngưỡng nhưng cũng có những người còn đang chật vật, khó khăn và trồi sụp không ngừng trên con đường tu đạo. Ðiều này cũng đúng về phương diện huyết thống. Con chấp nhận tất cả các vị tổ tiên huyết thống của con về cả hai phía nội ngoại với tất cả những đức độ, công hạnh và khiếm khuyết của các vị, cũng như con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con với những đức độ, tài năng và khiếm khuyết của từng người. Tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của con, cũng như con cháu tâm linh và huyết thống của con, đều đang có mặt trong con. Con là họ, họ là con, con không có một cái ta riêng biệt; tất cả đều có mặt trong một dòng sinh mạng đang diễn biến mầu nhiệm. Lạy thứ hai : Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với mọi người và mọi loài đang có mặt với con giờ này trong sự sống. Con thấy con là sự sống mầu nhiệm đang dàn trải trong không gian. Con thấy con liên hệ mật thiết tới mọi người và mọi loài; tất cả những hạnh phúc và khổ đau của mọi người và mọi loài là những hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con là một với những người sinh ra đã có khuyết tật, hoặc vì chiến tranh, tai nạn hay ốm đau mà trở thành khuyết tật. Con là một với những người đang bị kẹt vào những tình trạng chiến tranh, áp bức và bóc lột. Con là một với những người chưa từng có hạnh phúc trong gia đình, không có gốc rễ, không có bình an trong tâm, đói khát hiểu biết, đói khát thương yêu, đang đi tìm một cái gì đẹp, thật và lành để bám víu vào mà tin tưởng. Con là một với người đang hấp hối, sợ hãi không biết sẽ đi về đâu. Con là em bé sống trong nghèo khổ, tật bệnh, chân tay gầy ốm như những ống sậy, không có tương lai. Con là kẻ đang chế tạo bom đạn để bán cho các nước nghèo khổ. Con là con ếch bơi trong hồ mà cũng là con rắn nước cần nuôi thân bằng thân ếch nhái. Con là con sâu con kiến mà cũng là con chim đang đi tìm kiếm con kiến con sâu. Con là cây rừng đang bị đốn ngã, là nước sông và không khí đang bị ô nhiễm, mà cũng là người đốn rừng và làm ô nhiễm không khí và nước sông. Con thấy con trong tất cả mọi loài và tất cả mọi loài trong con. Con là một với những bậc đại nhân đã chứng được vô sinh, có thể nhìn những hiện tượng diệt sinh, hạnh phúc và khổ đau bằng con mắt trầm tĩnh. Con là một với những thiện tri thức hiện đang có mặt rải rác khắp nơi trên thế giới, có đủ bình an, hiểu biết và thương yêu, có khả năng tiếp xúc với những gì nhiệm mầu, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong sự sống, và cũng có thể ôm trọn thế gian này bằng trái tim thương yêu và hai cánh tay hành động của quý vị. Con là người có đủ an lạc và thảnh thơi, có thể hiến tặng sự không sợ hãi và niềm vui sống cho những sinh vật quanh mình. Con thấy con không hề đơn độc. Những bậc đại nhân hiện đang có mặt trên đời; tình thương và niềm vui sống của họ đang nâng đỡ con, không để con đắm chìm trong tuyệt vọng và giúp con sống đời sống của con một cách an vui, trọn vẹn và có ý nghĩa. Con thấy con trong tất cả các vị và tất cả các vị trong con. Lạy thứ ba : Năm vóc sát đất, con buông bỏ ý niệm về hình hài và thọ mạng. Con thấy được thân tứ đại này không đích thực là con, con không bị giới hạn trong hình hài này. Con là tất cả dòng sinh mạng tâm linh và huyết thống từ nghìn xưa liên tục diễn biến tới nghìn sau. Con là một với tổ tiên của con, con là một với con cháu của con. Con là sự sống biểu hiện dưới vô lượng hình thức. Con là một với mọi người và mọi loài, dù an lạc hay khổ đau, vô úy hay lo lắng. Con đang có mặt khắp nơi trong giờ phút này, và từ quá khứ cho tới tương lai. Sự tan rã của hình hài này không động được tới con, như một cánh hoa đào rơi không làm cho sự có mặt của cây hoa đào suy giảm. Con thấy con là một con sóng trên mặt đại dương, bản thể con là nước trong đại dương. Con thấy con trong tất cả các con sóng khác và tất cả các con sóng khác trong con. Sự biểu hiện hay ẩn tàng của hình tướng con sóng không làm suy giảm sự có mặt của đại dương. Pháp thân và tuệ mạng của con không sinh mà cũng không diệt. Con thấy được sự có mặt của con trước khi hình hài này biểu hiện và sau khi hình hài này biến diệt. Con thấy được sự có mặt của con ngoài hình hài này, ngay trong giờ phút hiện tại. Khoảng thời gian tám chín mươi năm không phải là thọ mạng của con. Thọ mạng của con, cũng như của một chiếc lá hay của các vị Bụt Thế Tôn, là vô lượng. Con thấy con vượt thoát ý niệm con là một hình hài biệt lập với mọi biểu hiện khác của sự sống, trong thời gian cũng như trong không gian..
Ba sự quay về nương tựa (pháp số, bài hát) 1. Nương tựa Bụt, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng. Cũng là tam quy, ba quy hay là ba quy y.
2. Một bài hát do tăng thân Làng Mai phổ nhạc: Con về nương tựa Bụt. Người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời. Namo Buddhaya. Con về nương tựa Pháp. Con đường của tình thương và sự hiểu biết. Namo Dharmaya. Con về nương tựa Tăng. Đoàn thể của những ai nguyện sống cuộc đời tỉnh thức Namo Sanghaya. Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời. Namo Buddhaya. Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa. Namo Dharmaya. Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. Namo Sanghaya. Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người thể nhận được giác tính sớm mở lòng bồ đề. Namo Buddhaya. Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người nắm vững các pháp môn cùng lên đường chuyền hóa. Namo Dharmaya. Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người xây dựng nên bốn chúng nhiếp hóa được muôn loài. Namo Sanghaya. Buddham saranam gaccha mi. Dharmam saranam gaccha mi. Sangham saranam gaccha mi.
Ba viên ngọc quý (pháp số) Tức là tam bảo. Bụt - phiên âm từchữ Buddha của tiếng Magadhi nghĩa là người tỉnh thức, người có tự do, có an lạc, có tình thương và sự hiểu biết. Viên ngọc quý này cũng có nghĩa là tính Bụt, là khả năng tỉnh thức trong mỗi người. Pháp (Dharma) - con đường của sự tỉnh thức. Con đường này đã được Bụt tìm ra và chỉ dạy cho chúng ta. Tăng (Sangha) - đoàn thể những người đang cùng nhau thực tập đạo tỉnh thức và cùng đi trên con đường giác ngộ. Tam bảo không phải chỉ là đối tượng của đức tin, mà phải là đối tượng của sự thực tập trong đời sống hàng ngày.
 |
Bách Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2002 (23 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 2 |
| năm 2003 (24 tuổi) tại chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Đức, pháp tự Chân Bách Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồ Đào. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Thọ giới lớn ngày 14 tháng 1 năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 177 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Bách Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. |
Bạch Vân (điện đường) Một cư xá tại đạo tràng Thanh Sơn, tu viện Rừng Phong, Hoa Kỳ.
Bài Tụng Hạnh Phúc (bài tụng) Một bài tụng được sử dụng trong các công phu sáng hoặc chiều tại các thiền viện, có thể dùng cho cả hai phái Thiền tông và Tịnh Độ tông. Có trong sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 và Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn do Đạo Tràng Mai Thôn biên soạn, nhà xuất bản Lá Bối ấn hành.
Ban chăm sóc (chức vụ) Một ủy ban do toàn chúng bầu ra để điều hành và tổ chức lễ lược, tổ chức các khóa tu, phối hợp với các chùa khác trong đạo tràng. Ban này gồm có cả các vị tỳ khưu (tỳ khưu ni), sa di (sa di ni) và các cư sĩ thường trú, được bầu mỗi năm một lần, hoặc hai lần, người được bầu không nhất thiết phải có hạ lạp cao, chỉ cần có tài năng phục vụ chúng. Tiếng anh gọi là Care Taking Council, gọi tắt là C.T.C.
Bàn Chân Của Bụt (khóa tu) Tên một khóa tu 21 ngày được tổ chức tại Làng Mai năm 2004.
Bàn Tay Của Bụt (khóa tu) Tên một khóa tu 21 ngày được tổ chức tại Làng Mai năm 2002.
Bản môn (thuật ngữ) Thế giới bản thể, không sinh, không diệt, không đến, không đi, không còn, không mất, không một, không khác, vượt thoát giới hạn thời gian và không gian. Đồng nghĩa với vô sinh. Bản môn được dịch ra tiếng Anh là The Ultimate Dimension, đối lại với tích môn là The Historical Dimension. Thế giới tích môn là thế giới hiện tượng được nhận thức qua khung thời gian và không gian. Tích môn được ví dụ với sóng, bản môn được ví dụ với nước. Sóng là sóng nhưng sóng đồng thời cũng là nước. Sóng có lên có xuống, có sinh có diệt, có có có không, có cao có thấp, nhưng nước thì không. Vì sóng cũng là nước cho nên tiếp xúc sâu sắc với sóng là tiếp xúc được với nước. Tiếp xúc sâu sắc với tích môn thì cũng tiếp xúc được với bản môn. Thực tập thiền là thực tập sống sâu sắc để có thể tiếp xúc sâu sắc với thế giới tích môn, để có cơ duyên tiếp xúc với thế giới bản môn.
Băng Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 2005 (19 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (20 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Diệu Hóa, pháp tự Chân Băng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 339 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Băng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
 |
Báo Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 2005 (19 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng |
1 năm 2006 (20 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Quảng Hương, pháp tự Chân Báo Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 333 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Báo Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bảo hộ thân tâm (phép tu) Phép thực tập chánh niệm để bảo hộ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, không cho các căn này chìm đắm và vướng mắc vào sáu đối tượng: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
 |
Bảo Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Đức, sinh năm 1940, tập sự xuất gia năm 1991 (51 tuổi), thọ giới Sa Di ngày |
27 tháng 12 năm 1991 (51 tuổi) tại chùa Cam Lộ – Làng Mai , pháp danh Tâm Thiện Nhân, pháp tự Chân Bảo Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Con Sư Tử. Thọ giới thức xoa ma na năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ. Thọ giới lớn ngày 4 tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích được tổ chức tại Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 2000 trong đại giới đàn Năm 2000 với bài kệ truyền đăng: Chân kinh bảo tạng rất trang nghiêm. Tổ đạo ngàn xưa đã đắc truyền. Một sáng trời mây bừng chuyển hóa. Bàn tay từ mẫu nở hoa sen. Là đệ tử thứ 6 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Bảo Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bảo tháp tình huynh đệ
(văn học) Trong quá trình tổ chức ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan tại Việt Nam đầu năm 2007, các vị tôn túc cùng chư vị cư sĩ đã tới với nhau bằng trái tim thuần khiết để cùng kiến lập Trai Đàn cũng như để cầu nguyện giải trừ oan khổ cho mọi lớp đồng bào tử vong trong cuộc chiến, không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo và khuynh hướng chính trị. Trong quá trình kiến lập trai đàn và cầu nguyện cho chư hương linh, sự chân thành của mọi giới Phật tử đã xây đắp lên một tình huynh đệ rất đẹp. Thầy Làng Mai nói đó là một bảo tháp của Tình Huynh Đệ, tuy không hình tướng, nhưng sẽ đứng mãi với thời gian. Xin đọc lá thư Thầy Làng Mai gửi cho Thượng tọa Lệ Trang, sám chủ Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan tại chùa Vĩnh Nghiêm để thấy rõ ý ấy. “Mai Thôn, 18.07.07. Kính gởi Thượng tọa Lệ Trang. Các Đại Trai đàn Chẩn tế Bình đẳng Giải oan được tổ chức tại quê hương đầu năm nay đã ấm lòng bao nhiêu đồng bào và giúp cho không biết bao nhiêu người bớt khổ. Tuy trở ngại khá nhiều, khó khăn cũng không ít, nhất là ở miền Trung và miền Bắc, nhưng tình huynh đệ đã tạo ra được phép lạ giúp chúng ta vượt thoát những trở ngại và khó khăn kia, trong đó kể cả những kỳ thị, lo lắng, thờ ơ, sợ hãi và nghi ngờ. Trong khi thiết lập trai đàn, anh em chúng ta cũng đã xây lên được một Bảo tháp của Tình huynh đệ, một bảo tháp tuy không có hình tướng nhưng rất hiện thực và không có một ai có khả năng phá đổ. Chúng ta, từ giới xuất gia cho đến giới tại gia, đã tìm tới với nhau để kiến lập các trai đàn với một trái tim thuần khiết, một tình thương không phân biệt kỳ thị, không hề vướng một chút lợi hoặc một chút danh. Chúng ta ai cũng chỉ nghĩ đến chuyện đóng góp mà không ai nghĩ đến chuyện được đền đáp. Chúng ta đã đến với nhau để cùng chú nguyện, cùng hộ niệm, cùng khóc thương, để giải tỏa niềm đau, nhờ đó mà những oan khổ lâu nay của những người đã chết và cả những người còn sống đã có cơ hội giải trừ và tiêu tán. Hiệu quả trị liệu được trông thấy rõ ràng, làm cảm động cả trời đất, những cơn mưa trái mùa đã đổ xuống sau mỗi đại trai đàn làm mát dịu biết bao tấm lòng. Chư vị tôn đức trong ban chứng minh và các ban kinh sư đã làm việc hết lòng mà các giới Phật tử tại gia cũng đã đem hết khả năng và tâm thành để góp sức kiến đàn và cầu nguyện. Hình ảnh ấy, tình huynh đệ ấy, tôi thấy không có gì đẹp hơn. Trong dịp kiến lập các đại trai đàn này, tôi thấy lại được tình huynh đệ của năm 1963, khi Phật tử Việt Nam tới với nhau với niềm thương cảm và một trái tim thuần khiết, vô úy và thánh thiện. Điều này làm tôi giữ được niềm tin nơi khả năng của Phật tử Việt Nam trong cuộc vận động hiện đại hóa đạo Bụt để nền đạo lý dân tộc có đủ khả năng giúp người đương thời chuyển hóa được những khó khăn và khổ đau mới của họ. Tôi xin cám ơn Thượng tọa đã gửi qua Mai thôn chiếc bình Tịnh thủy đã được sử dụng ở Đại Trai Đàn Vĩnh Nghiêm. Với lá thư này, đạo tràng Mai Thôn kính thỉnh Thượng tọa qua Mai thôn một vài tuần thăm viếng và nếu có thể, dạy dỗ thêm cho các huynh đệ bên này về lễ nhạc Phật giáo. Sự có mặt của Thượng tọa sẽ đem lại nhiều cảm hứng và niềm vui cho tứ chúng bên này. Kính thư, Nhất Hạnh” |
Bát Kỉnh Pháp (pháp số) Tám phép kính trọng của các thầy đối với các sư cô.Trong buổi pháp thoại tại Nội Viện Phương Khê dàng cho giới xuất gia ngày 08.04.2008, Sư Ông Làng Mai đã tuyên đọc văn bản Bát Kỉnh Pháp của các thầy đối với các sư cô với lời đề tặng cho các thầy Xá Lợi Phất và A Nan Đà, hai vị tôn đức đã có công giúp cho nữ giới được xuất gia, gia nhập vào tăng đoàn của Bụt. Tám phép kính trọng này đã được tăng thân Làng Mai thực tập từ khi có giáo đoàn xuất gia năm 1988 nhưng sau hơn sáu mươi năm lắng nghe mọi giới tu sĩ trong và ngoài nước
, nay Sư Ông Làng Mai mới viết thành văn bản. Đó là: 1. Vị nam khất sĩ dù hạ lạp lớn, khi thấy một vị nữ khất sĩ chắp tay chào, cũng chắp tay chào trở lại, dù vị nữ khất sĩ này còn nhỏ tuổi. Vị nữ khất sĩ này tuy nhỏ tuổi nhưng cũng đại diện cho Giáo Đoàn Tỳ Kheo Ni, một đối tác của Giáo Đoàn Nam Khất Sĩ trong suốt quá trình lịch sử đạo Bụt từ khởi nguyên cho đến tương lai. 2. Vị nam khất sĩ không suy nghĩ và phát ngôn rằng các vị nữ khất sĩ vì là giới nữ nên nặng nghiệp hơn bên nam, do đó không thể nào học hỏi, tu chứng và làm Phật sự giỏi bằng bên nam được. Vị nam khất sĩ ý thức rằng sở dĩ những giới điều bên giới bản nữ khất sĩ nhiều hơn bên giới bản nam khất sĩ, đó không phải là vì bên nữ nặng nghiệp hơn mà là vì giáo đoàn nữ khất sĩ đã tự chế thêm một số giới điều để tự bảo hộ và giúp bảo hộ cho bên nam giới. 3. Một vị nam khất sĩ khi thấy một vị nữ khất sĩ lớn tuổi bằng mẹ mình thì phải ý thức rằng vị nữ khất sĩ này tuổi lớn bằng tuổi mẹ mình để phát khởi tâm niệm cung kính, bảo hộ và giúp đỡ; khi thấy một vị nữ khất sĩ tuổi lớn bằng tuổi chị mình thì cũng phải ý thức rằng vị nữ khất sĩ này tuổi lớn bằng tuổi chị mình để phát khởi tâm niệm cung kính, bảo hộ và giúp đỡ; khi thấy một vị nữ khất sĩ tuổi nhỏ bằng em gái mình thì cũng phải ý thức rằng vị nữ khất sĩ này tuổi trẻ bằng tuổi em gái mình, để phát khởi tâm niệm thương tưởng, bảo hộ và giúp đỡ; khi thấy một vị nữ khất sĩ tuổi nhỏ bằng con gái mình thì nên ý thức rằng vị nữ khất sĩ này tuổi nhỏ bằng con gái mình để phát khởi tâm niệm thương tưởng, bảo hộ và giúp đỡ. 4.Vị nam khất sĩ không bao giờ nhục mạ một vị nữ khất sĩ dù là bằng những lời bóng gió hoặc đánh một vị nữ khất sĩ dù là với một cành hoa. Vị nam khất sĩ của thế kỷ 21 có đủ lịch sự nâng một chén trà để mời một vị nữ khất sĩ. Nếu nơi nhân cách của một vị nam khất sĩ chân tu có dáng dấp của bồ tát Phổ Hiền thì nơi nhân cách của một vị nữ khất sĩ chân tu cũng có dáng dấp của đại sĩ Quan Âm. Sự tương kính này nuôi lớn cả hai bên đối tác. 5. Các vị nam khất sĩ khi tổ chức an cư kết hạ hay kết đông nên chọn nơi nào có đoàn thể các vị nữ khất sĩ, để có cơ hội gần gũi, bảo vệ, giáo hóa và được yểm trợ, bởi vì giáo đoàn nữ khất sĩ luôn luôn là đối tác lâu dài của giáo đoàn nam khất sĩ. 6. Các vị nam khất sĩ khi nghe nói đến một vị nữ khất sĩ có thực học, có tài ba, có đạo đức thì có thể liên lạc với giáo đoàn nữ khất sĩ để thỉnh cầu vị nữ khất sĩ này đến giảng dạy, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm tu học của mình. 7. Khi các vị nữ khất sĩ tình nguyện tới chùa viện các vị nam khất sĩ để giúp đỡ bày biện, nấu cỗ trong những dịp giỗ tổ hay lễ lớn, các vị nam khất sĩ phải biết tìm cách đồng sự và giúp đỡ, nhất là khi có những công tác khiêng vác nặng nhọc. 8. Khi nghe nói có một vị nữ khất sĩ bị ốm đau, tai nạn, các vị nam khất sĩ cần tỏ lòng ưu ái, phái người đến thăm hỏi và tìm cách yểm trợ.
Bát Nhã (cơ sở) Tên đầy đủ là Tu Viện Bát Nhã, một tu viện tại huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam, tu tập theo pháp môn Làng Mai, do thượng tọa Đức Nghi làm viện chủ, gồm có xóm Bếp Lửa Hồng của các sư cô và xóm Rừng Phương Bối của các thầy.
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, diễn giải tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, xuất bản lần đầu tại Hoa Kỳ trong thập niên 80 và in tại Việt Nam vào khoảng năm 2000. Bản tiếng Anh tựa đề The Heart of Understanding.
Bảy điểm (pháp số) Trong dịp viếng thăm Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Phan Văn Khải ngày 25 tháng 03 năm 2005, thầy Làng Mai đã đề nghị bảy điểm về một chính sách cởi mở đối với tôn giáo như sau: 1. Nhà nước xác nhận ý muốn thực hiện sự tách rời giáo quyền ra khỏi chính quyền. Giáo quyền và chính quyền là hai lãnh vực riêng biệt không có quyền can thiệp vào nhau. Nhưng cả giáo quyền và chính quyền đều phải có đạo đức, nếu cả hai đều không muốn phá sản. Vì vậy tôn giáo có thể giúp cho chính trị và chính trị có thể giúp cho tôn giáo, nhưng cả hai bên đều phải theo luật pháp quốc gia. Bên tôn giáo có thể đóng góp tuệ giác và nhắc chừng về chiều hướng tâm linh đạo đức trong cả hai ngành lập pháp và hành pháp, bên chính trị có thể đóng góp ý kiến về sự suy thoái đạo đức trong tôn giáo và sự lạm dụng giáo quyền trong việc tìm cầu danh lợi và quyền bính, và yểm trợ cho tôn giáo trong những công tác giáo dục đạo đức và thực tập đưa tới lành mạnh hóa xã hội. Ngày xưa vua Lý Thái Tổ đã yểm trợ đạo Phật xây dựng cơ sở giáo hội, và thiền sư Vạn Hạnh đã chỉ bày thêm cho vua về các đường lối kinh tế, văn hóa, đạo đức và chính trị. Nhưng vua không chen vào để kiểm soát Phật giáo và thiền sư cũng không nhận trách vụ gì trong guồng máy chính trị. Nhà nước bảo đảm là từ nay các vị xuất gia sẽ không bị mời làm dân biểu quốc hội, trở nên thành viên hội đồng nhân dân các cấp và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam hoặc trở nên đảng viên của bất cứ một đảng phái chính trị nào. Xen vào lãnh vực chính trị như thế các vị xuất gia sẽ phạm giới, làm mất uy tín của giáo đoàn Phật giáo và cũng làm cho chính quyền mang tiếng là sử dụng những vị ấy để kiểm soát tôn giáo. Từ nay các vị xuất gia sẽ không còn nhận huân chương của chính quyền. Vị cao tăng nào làm cố vấn giỏi, đề nghị được những biện pháp cụ thể lợi nước lợi dân thì chỉ có quyền nhận một chiếc y màu tím như các vị cao tăng quốc sư đời trước. 2. Trong những năm qua đã có xảy ra nhiều điều đáng tiếc trong Phật giáo do những hiểu lầm, e sợ, nghi kỵ và vụng về gây ra. Những điều này đã gây khó khăn không ít cho nhà nước và cho cộng đồng Phật giáo. Nhà nước xin trân trọng chính thức kính mời tất cả các vị tôn túc trưởng lão trong cộng đồng Phật giáo làm cố vấn cho cả hai cơ quan lập pháp và hành pháp của nhà nước để giúp tháo gỡ những khó khăn đang có, hàn gắn những đổ nát, xây dựng lại tình huynh đệ trong cộng đồng Phật giáo và thiết lập truyền thông tốt với phía nhà nước. Danh sách các vị được mời: Hòa thượng Trí Quang, Trí Tịnh, Nhật Liên, Huyền Quang, Quảng Độ, Phổ Tuệ v.v... (xin thêm cho đủ ba miền). Nhà nước muốn lắng nghe liệt vị tôn túc trưởng lão về những vấn đề lớn có liên hệ tới cộng đồng Phật giáo. Các vị tôn túc có thể gặp gỡ nhiều tuần hoặc nhiều tháng bất cứ tại một địa điểm nào trong nước, có thời gian và không gian thoải mái để nghiên cứu và đưa ra những đề nghị và những giải pháp cụ thể. Nhà nước cam kết là không tìm cách gián tiếp hay trực tiếp ảnh hưởng tới tư duy và quyết định của chư vị tôn túc. Nhà nước mong liệt vị sẽ soi sáng cho nhà nước về những điểm sau đây: (a) Pháp Lệnh về tôn giáo có những điểm nào tích cực cần phát triển và những điểm nào không phù hợp với tinh thần Phật giáo cần phải chỉnh lý? Xin cho các cơ quan lập pháp và hành pháp biết để tu bổ, hoàn thiện và nếu cần, các cơ quan lập pháp và hành pháp sẽ tham vấn lại với liệt vị trước khi tu bổ và hoàn thiện. (b) Làm thế nào để hợp nhất hai giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trong tình huynh đệ và đặt cộng đồng này ra ngoài ảnh hưởng của các vùng quyền lực chính trị trong nước và ngoài nước? Xin cho nhà nước biết, nhà nước có thể làm gì (và không nên làm gì) để yểm trợ cho sự phối hợp ấy. Sự có mặt của hai giáo hội sinh hoạt trong khuôn khổ luật pháp quốc gia không bị chi phối bởi chính trị là một sự kiện có thể chấp nhận và thực hiện được, nếu hai bên có điều kiện để ngồi xuống và nói hết cho nhau nghe về những khó khăn và những ước vọng của nhau. Nhà nước cần lắng nghe những khó khăn bên phía Phật giáo và bên phía Phật giáo cũng cần lắng nghe về những khó khăn mà nhà nước đang gặp phải. Không có gì mà ta không thể thực hiện được, nếu ta chịu ngồi xuống nói chuyện thành thật và thẳng thắn với nhau. 3. Làm thế nào để hợp nhất hai giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trong tình huynh đệ và đặt cộng đồng này ra ngoài ảnh hưởng của các vùng quyền lực chính trị trong nước và ngoài nước? Xin cho nhà nước biết, nhà nước có thể làm gì (và không nên làm gì) để yểm trợ cho sự phối hợp ấy. Sự có mặt của hai giáo hội sinh hoạt trong khuôn khổ luật pháp quốc gia không bị chi phối bởi chính trị là một sự kiện có thể chấp nhận và thực hiện được, nếu hai bên có điều kiện để ngồi xuống và nói hết cho nhau nghe về những khó khăn và những ước vọng của nhau. Nhà nước cần lắng nghe những khó khăn bên phía Phật giáo và bên phía Phật giáo cũng cần lắng nghe về những khó khăn mà nhà nước đang gặp phải. Không có gì mà ta không thể thực hiện được, nếu ta chịu ngồi xuống nói chuyện thành thật và thẳng thắn với nhau. |
|
4. Các giáo hội có thể làm được gì để giúp chấm dứt tình trạng lợi dụng trong nội bộ Phật giáo và nội bộ chính quyền ngoài sự kêu gọi hay phản đối? Nạn tham nhũng và tranh giành không phải chỉ có mặt trong đảng và trong chính trị mà cũng đang có mặt trong tôn giáo. Liệt vị tôn túc có những biện pháp cụ thể nào để giúp chấm dứt tình trạng hư hỏng của tăng ni sinh, của những vị xuất gia chỉ biết củng cố danh vọng và quyền hành, của những thành phần trong guồng máy hành chính các cấp? Chúng tôi cần tuệ giác của liệt vị, cũng như liệt vị có thể cần tới chúng tôi trong việc bảo hộ Phật pháp, ngăn chặn những thành phần thối nát, không hành trì giới luật đang thao túng trong lãnh vực tôn giáo. 5. Nhà nước sẽ ra lệnh cho các ban ngành yểm trợ giới xuất gia bằng cách cấp phát hộ khẩu cho bất cứ vị xuất gia nào muốn gia nhập vào một tổ đình hay một tu học viện để tu học, không cần phải đi qua quá trình xin giấy tạm trú ba tháng, quá trình này trong quá khứ đã gây nên nạn tham nhũng trong cả hai giới giáo quyền và chính quyền. Nhà nước cam kết từ nay trở đi, thời hạn cấp phát hộ chiếu cho người xuất gia cũng là tối đa 21 ngày như những công dân Việt Nam khác, chứ không phải từ sáu tháng đến hai năm như trước. 6. Chuyến về thăm và hành đạo của Thiền sư Nhất Hạnh và phái đoàn Quốc tế Làng Mai tuy chưa chấm dứt nhưng đã đem lại rất nhiều hàn gắn, trị liệu, nuôi dưỡng và hạnh phúc cho Phật tử từ Nam, Trung, Bắc, hàn gắn được nhiều đổ vỡ, dựng lại được nhiều đổ nát và xây đắp được tình huynh đệ. Việc chư tăng Thừa Thiên đã đến tụng giới chung với nhau lần đầu ngày 22 tháng 2 năm 2005, sau hơn 10 năm trời tụng giới riêng đã đem lại hạnh phúc lớn lao cho cả các giới xuất gia và tại gia tại Thừa Thiên, cả trong nước và ngoài nước. Các buổi giảng diễn của Thiền sư, trong đó có buổi giảng tại Học Viện Hành Chính Quốc Gia, TP HCM, các buổi giảng do Học Viện Chính Trị Quốc Gia TP HCM, Ủy Ban về Người Việt Nam ở Nước Ngoài tổ chức và các khóa tu trong đó có khóa tu cho 1.200 người xuất gia tại chùa Hoằng Pháp, quận Hóc Môn, TP HCM và khóa tu cho 900 người xuất gia tại chùa Từ Hiếu, Huế đã giúp tháo gỡ rất nhiều tri giác sai lầm, nghi ngờ và sợ hãi. Nhà nước muốn được thấy các vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ cũng được thoải mái làm các việc như thế, và bảo đảm quý vị có quyền di chuyển tự do, thuyết pháp và hành đạo trên mọi miền đất nước và sẽ tìm cách yểm trợ các vị. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một thực tại. Nếu quý Hòa thượng muốn giáo hội này phục hoạt lại, điều này không phải là một việc khó. Việc khó là chúng ta phải ngồi lại với nhau để nói chuyện, để thiết lập lại truyền thông với nhau, để lắng nghe nhau, để thấy được những khó khăn của nhau và để cùng đi đến những quyết định chung có thể làm đẹp lòng cho cả hai phía. 7. Bên phía nhà nước có Ban Tôn Giáo của chính phủ để yểm trợ cho tôn giáo, bên phía Phật giáo thì có Ban Tôn Giáo liên hệ với thế quyền để yểm trợ cho bên nhà nước. Ban Tôn Giáo của chính phủ không có mục đích kiểm soát và điều khiển các tôn giáo mà chỉ để quán sát và đề nghị với các hàng giáo phẩm về những lạm dụng có thể xảy ra trong địa hạt tôn giáo và để biết được những gì nhà nước có thể làm để bảo vệ an toàn cho các cơ sở tôn giáo và yểm trợ cho giáo hội trong công tác xây dựng và lành mạnh hóa xã hội. Ban Tôn Giáo liên hệ với thế quyền không có mục đích tham dự, cầu cạnh hoặc thao túng chính quyền mà chỉ để quán sát và cố vấn cho chính quyền về những phương pháp bài trừ lạm dụng, bất công, tham nhũng, có hại cho nhà nước, cho quốc gia và cho Phật giáo.
Bảy thân (pháp số) Chúng sinh thân, thừa kế thân, ngoại thân, pháp thân, pháp giới thân, pháp giới tính thân và y báo thân.
Bây giờ, ở đây (thuật ngữ) Địa chỉ của sự sống đích thực. Năng lượng chánh niệm giúp đưa tâm về với thân để hành giả có mặt thật sự ngay tại nơi này trong giây phút hiện tại. An trú trong giờ phút hiện tại và ngay nơi này, hành giả không tự đánh mất mình trong quá khứ, trong tương lai và trong những lo toan và sầu khổ. Cái bây giờ và cái ở đây liên hệ với nhau mật thiết, không thể tách rời nhau, cái này chứa đựng cái kia. Thi sĩ Nguyễn Du đã viết “đến bây giờ, mới thấy đây”.
Bẫy sập hình thức (thuật ngữ) Sự thực tập hình thức không có nội dung niệm, định và tuệ. Trong lúc tụng kinh, niệm Bụt, ngồi thiền, đi thiền, dâng hương, bái sám, chấp tác, hành giả phải chế tác năng lượng chánh niệm để thật sự có mặt và để có thể chế tác năng lượng định, tuệ, an lạc và thảnh thơi. Trong một tập thể tu học, cần có sự nhắc nhở thường xuyên để hành giả đừng bị rơi vào bẫy sập thực tập hình thức.
Be Free Where You Are (sách) Một cuốn sách mỏng, nguyên bản bằng tiếng Anh được đánh máy ra từ bài pháp thoại của Thầy Làng Mai giảng trong nhà tù Maryland Correctional House tại Maryland, do nhà xuất bản Parallax ấn hành năm 2000 tại Hoa Kỳ. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.
Being Peace (sách) Một cuốn sách mỏng, nguyên bản bằng tiếng Anh của Thầy Làng Mai được viết và xuất bản năm 1987 tại Hoa Kỳ do nhà Parallax ấn hành. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.
Bến Đỗ Tâm Linh (sách) Một cuốn sách trích đăng các bài viết của Thầy Làng Mai từ Lá Thư Làng Mai năm 2000, nhà in Lá Bối, Việt Nam ấn hành năm 2000.
Bệnh nằm trong phòng mà vẫn biết (giai thoại) Thông thường trong các khóa tu của Làng Mai, các thiền sinh về dự khóa tu thỉnh rất nhiều các bức thư pháp và sách của Thầy Làng Mai. Vì vậy trong các khóa tu Thầy thường phải viết rất nhiều thư pháp và ký rất nhiều sách. Trong một khóa tu tại Hòa Lan năm 2006, không ngoại lệ, Thầy cũng phải viết rất nhiều thư pháp và ký sách (trong đó có những cuốn sách đã được mua cách đây mười năm rồi giờ họ cũng mang tới để Thầy ký!). Rủi thay trong thời gian đó vai bên phải của Thầy lại bị đau nhức. Thế rồi chẳng mấy chốc tin Thầy bị đau cánh tay đã truyền đi rất mau. Có một bà thiền sinh nọ không may đã bị bệnh nằm mấy ngày liền trong phòng, vậy mà khi một sư cô tới thăm bà, bà đã tỏ vẻ rất xót xa nói với sư cô rằng: “Nghe nói Thầy bị đau tay, tội quá, chắc Thầy phải viết nhiều thư pháp và ký sách nên cánh tay của Thầy bị đau.”
Bếp Lửa Hồng (cơ sở) Một xóm dành cho các sư cô, thuộc tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.
 |
Bhupendra Kumar Modi (tên gọi) Tên vị giám đốc công ty M Corp Global, công ty đã dự định bỏ ra 120 triệu Mỹ Kim để thực hiện phim Buddha, căn cứ trên tác phẩm Đường Xưa |
| Mây Trắng. Tiến sĩ Modi cũng là hội trưởng hội Mahabodhi Society. |
 |
Bi Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Đức, quốc tịch Đức, sinh năm 1947, tập sự xuất gia năm 1997 (50 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 02 năm |
1998 (51 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Evercaring of the Heart, pháp tự Chân Bi Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Táo. Thọ giới thức xoa ma na năm 2000. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới được tổ chức tại Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp với bài kệ truyền đăng: Học nhìn với mắt từ bi. Trang nghiêm cõi Bụt ngại gì nắng mưa. Tùng xanh, dương mướt năm xưa. Nhắc câu đại nguyện, sen vừa nẩy bông. Là đệ tử thứ 57 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Bi Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bi thính (thuật ngữ) Xem lắng nghe và truyền thông.
 |
Bích Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1969, tập sự xuất gia năm 1994 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 24 |
tháng 05 năm1994 (25 tuổi) tại chùa Cam Lộ – Làng Mai, pháp danh Tâm Nghiêm Diễn, pháp tự Chân Bích Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Con Chim. Thọ giới lớn năm 1996 trong đại giới đàn Nến Ngọc được tổ chức tại Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng: Bích nham sóng vỗ tiếng âu bay. Nghiêm hộ tương lai chính phút này. Sông mở lòng ra, về với biển. Biển sông ôm trọn cả trời mây. Là đệ tử thứ 25 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Bích Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bích Nham (cơ sở) Một tu viện thuộc Làng Mai, tại tiểu bang New York, Hoa Kỳ. Gồm có hai xóm là xóm Tùng Xanh (xem Tùng Xanh) và xóm Hạc Trắng (xem Hạc Trắng). Tu viện Bích Nham được thành lập từ tháng 5 năm 2007 dưới sự tổ chức và hướng dẫn của quý thầy và quý sư cô từ tu viện Rừng Phong và đạo tràng Thanh Sơn chuyển về. Địa chỉ: 3 Mindfulness Road, Pine Bush, NY 12566, USA. Tu viện đã chính thức mở cửa bằng một khóa tu cho thiền sinh tiểu bang New York và các tiểu bang lân cận từ ngày 12.10 – 18.10.2007 với hướng dẫn của Sư Ông cùng nhiều thầy và sư cô từ Làng Mai Pháp Quốc, trong khuôn khổ chuyến hoằng pháp tại Hoa Kỳ mùa thu 2007.
Biển Khổ Thuyền Đi Cứu Độ Người (sách) Một cuốn sách trích đăng các bài viết của Thầy Làng Mai từ các Lá Thư Làng Mai, được in ở Việt Nam năm 1999.
Biểu Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2007 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 2 năm 2008 (26 tuổi) tại tu viện Bát Nhã - Việt Nam, pháp danh Tâm Đức Hiếu, pháp tự Chân Biểu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Là đệ tử thứ 488 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Biểu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bình đẳng trước đau thương (thuật ngữ) Phương châm thực tập của Sư Ông và tăng đoàn Làng Mai trong các đại trai đàn bình đẳng giải oan được tổ chức trong khuôn khổ chuyến thăm viếng và hành đạo tại quê hương Việt Nam năm 2007. Tăng thân Làng Mai muốn cầu nguyện cho tất cả mọi người, nghĩa là không những cho phía Cộng sản mà cho cả phía Quốc gia vì những người của miền Nam, dù họ không phải là Cộng sản, dù họ không chống Mỹ, dù họ đi theo một chiều hướng ý thức hệ khác, dù họ không giữ được miền Nam của họ, giữ được chính quyền của họ, họ vẫn là người Việt Nam; họ cũng đã tranh đấu cho đất nước và dân tộc của họ theo cách thức và nhận thức của họ. Và những đau thương oan ức của tất cả những ai đã ngã xuống trong cuộc chiến đều được công nhận một cách bình đẳng, bình đẳng ở đây có nghĩa là người Nam cũng là người Việt như người Bắc, người Công giáo cũng là người Việt như người Phật giáo, người không cộng sản cũng là người Việt Nam như người cộng sản.
Bói Kiều (pháp môn) Một pháp môn thực tập và nuôi dưỡng trong ba ngày Tết, sử dụng Phật học, thi ca và tâm lý trị liệu để quán chiếu hiện tại và tương lai. Pháp môn này chắc chắn sẽ thành công lớn như pháp môn Bông Hồng Cài Áo. Nguyên tắc thực tập bói Kiều: Bói Kiều là tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Du, ni sư Giác Duyên và đạo cô Tam Hợp về tình trạng hiện tại của mình và để biết cách tu tập và tiếp xử như thế nào cho có hạnh phúc và thành công trong năm tới. Tại làng Mai, ai bói Kiều cũng tấm tắc khen là linh nghiệm. Nghệ thuật đoán quẻ Kiều: Muốn tham vấn, phải tới trước bàn thờ Phật và bàn thờ Tổ để lạy ba lạy thật cung kính, rồi ngồi xuống, đặt tay vào thành chuông, thở vào và thở ra ba lần rất chánh niệm rồi đưa tay vào chuông bốc lên một quẻ. Cụ Nguyễn Du cũng như ni sư Giác Duyên đều là tổ tiên tâm linh và nghệ thuật của tất cả chúng ta. Quẻ bốc được sẽ được trao cho vị có nhiệm vụ đoán quẻ. Vị này là một người có kiến thức về văn chương, truyện Kiều, có khả năng nhận xét tâm lý, và nhất là có kiến thức về Phật pháp và kinh nghiệm tu tập. Trong lúc quẻ được một người ngâm lên, mọi người có mặt đều thực tập theo dõi hơi thở (nếu có tiếng đàn phụ họa giọng ngâm thì càng hay). Thời gian này là để vị đoán quẻ chiêm nghiệm. Phương pháp đoán quẻ Kiều: Ở Làng Mai, quý thầy, quý sư cô và quý vị cư sĩ thường đoán quẻ Kiều theo phương pháp sau đây: 1. Trong hai câu lục bát, có thể một câu là nhân và một câu là quả. Quả có thể là đã phát sinh trong hiện tại hay là điều mong ước trong tương lai. Nhân là lời khuyên của cụ Nguyễn Du về cách hành xử và tu tập để chuyển hóa hay thực hiện. 2. Nghĩa lý trong quẻ không cần đi theo nghĩa lý truyện Kiều. (Ví dụ: Câu “Lòng còn gửi áng mây vàng” không hẳn phải giải là đương sự còn tưởng nhớ quê hương mà có thể giải là lý tưởng tu học vẫn còn vững mạnh, bồ đề tâm vẫn còn nguyên vẹn, vì mây vàng ở đây có thể được xem là lý tưởng cao siêu của đạo Bụt, của ánh đạo vàng. Câu “Song thu đã khép cánh ngoài” không chỉ có nghĩa là đóng cửa sổ lại mà còn có nghĩa là đừng để tâm tới những chuyện thế gian, nên tập trung tâm ý vào việc tu học. Cũng như câu “Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân” thì theo tinh thần của Quy Sơn Cảnh Sách là phải nương tựa vào các vị thiện tri thức lớn).3. Hỏi xem đương sự đã xin tham vấn cụ Nguyễn Du về vấn đề gì để nương vào đó mà đoán quẻ. 4. Có thể tham khảo ý kiến của một vài vị thiện tri thức cùng có mặt để các vị có thể chia sẻ thêm tuệ giác của các vị về quẻ đang được đoán. 5. Quẻ đoán phải có tác dụng an ủi, khuyến khích và soi sáng cho người xin quẻ. 6. Trong giờ bói Kiều nên tập họp cả đại chúng. Mỗi người bói xong nên lạy tạ trước khi trở về chỗ ngồi. Mỗi lời đoán phải là một bài thuyết pháp ngắn cho tất cả đại chúng. Lời khấn nguyện trước khi bốc quẻ Kiều: Người muốn tham vấn sẽ đọc thầm lời khấn nguyện này trong khi đặt tay lên thành chuông và theo dõi hơi thở. “Cầu thi thánh Nguyễn Du; cầu đạo cô Tam Hợp; cầu sư trưởng Giác Duyên; cầu giáng tiên Thúy Kiều. Tôi tên là... Xin tham vấn thi thánh, đạo cô, sư trưởng và giáng tiên về vấn đề... ” Gồm có hai trăm mười quẻ sau đây: 1. Thông minh vốn sẵn tính trời. Nhẹ nhàng nghiệp trước, đền bồi duyên sau. 2. Tan sương vừa rạng ngày mai. Trụ trì nghe tiếng vội mời vào trong. 3. Nâu sồng từ trở màu thiền. Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi. 4. Bây giờ rõ mặt đôi ta. Tu là cội phúc, tình là dây oan. 5. Song thu đã khép cánh ngoài. Hay là khổ tận đến ngày cam lai? 6. Bấy lâu mới được một ngày. Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương. 7. Cho hay giọt nước cành dương. Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi. 8. Tấm thân rày đã nhẹ nhàng. Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi. 9. Thương sao cho vẹn thì thương. Lòng đây lòng đấy chưa tường hay sao? 10. Thương sao cho vẹn thì thương. Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. 11. Phật tiền ngày bạc lân la. Tương tri dường ấy mới là tương tri. 12. Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân. Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau. 13. Đã nguyền hai chữ đồng tâm. Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời. 14. Đã nên có nghĩa có nhân. Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung. 15. Đề huề lưng túi gió trăng. Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời. 16. Gương trong chẳng chút bụi trần. Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong. 17. Nâu sồng từ trở màu thiền. Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng. 18. Thương nhau xin nhớ lời nhau. Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì? 19. Song hồ nửa khép cánh mây. Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần. 20. Dịp đâu may mắn lạ thường. Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao. 21. Tan sương vừa rạng ngày mai. Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần. 22. Bốn bề bát ngát xa trông. Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường. 23. Một người dễ có mấy thân. Ở đây hoặc có giai âm chăng là. 24. Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân. Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen. 25. Cùng nhau nương cửa Bồ Đề. Vườn xuân một thửa, để bia muôn đời. 26. Ngày xuân em hãy còn dài. Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? 27. Trùng sinh ân nặng bể trời. Ngày phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương. 28. Thiền trà cạn nước hồng mai. Nhờ tay tế độ, vớt người trầm luân. 29. Cùng nhau lạy trước Phật đài. Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? 30. Lời vàng vâng lĩnh ý cao. Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai. 31. Trong như tiếng hạc bay qua. Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng. 32. Vầng trăng vằng vặc giữa trời. Nhẹ nhàng nghiệp trước đền bồi duyên sau. 33. Trông người lại ngẫm đến ta. Tu là cội phúc, tình là dây oan. 34. Kiếp tu xưa ví chưa dày. Lòng nào còn tưởng có rày nữa không? 35. Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi. Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng. 36. Một tường tuyết chở sương che. Lời Sư đã dạy ắt thì chẳng sai. 37. Chung quanh vẫn đất nước nhà. Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. 38. Một lời nói chửa kịp thưa. Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm.39. Thông minh vốn sẵn tính trời. Mà trong lẽ phải, có người có ta. 40. Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Lòng kia giữ được thường thường mãi không? 41. Vầng trăng vằng vặc giữa trời. Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra. 42. Còn non còn nước còn dài. Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. 43. Gương trong chẳng chút bụi trần. Sen vàng lãng đãng như gần như xa. 44. Khi hương sớm khi trà trưa. Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. 45. Gửi thân được chốn am mây. Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là. 46. Trong cơ thanh khí tương tầm. Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân. 47. Gìn vàng giữ ngọc cho hay. Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương. 48. Gửi thân được chốn am mây. Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi. 49. So dần giây vũ giây văn. Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay. 50. Tiếng sen sẽ động giấc hòe. Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần. 51. Phong sương được vẻ thiên nhiên. Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa. 52. Nạn xưa trút sạch làu làu. Mười phần ta đã tin nhau cả mười. 53. Được lời như cởi tấm lòng. Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau. 54. Long lanh đáy nước in trời. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. 55. Tạ lòng lạy trước sân mây. Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong. 56. Nghe tường ngành ngọn tiêu hao. Giác Duyên đâu bỗng tìm vào tới nơi. 57. Nẻo xa mới tỏ mặt người. Duyên ta mà cũng phúc trời chi không. 58. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai. Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ. 59. Dẫu rằng vật đổi sao dời. Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa. 60. Những là rày ước mai ao. Dưới dày có đất trên cao có trời. 61. Lấy tình thâm trả nghĩa thâm. Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm. 62. Nghe tin nở mặt nở mày. Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần. 63. Trùng sinh ân nặng biển trời. Tái sinh trần tạ ơn người từ bi. 64. Áo xanh đổi lấy cà sa. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. 65. Khen cho con mắt tinh đời. Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. 66. Cửa sài vừa ngỏ then hoa. Nhớ lời nói những bao giờ hay không? 67. Sớm khuya lá bối phướn mây. Đi về này những lối này năm xưa. 68. Gửi thân được chốn am mây. Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ. 69. Sẵn Quan Âm Các vườn ta. Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao. 70. Thân ta, ta phải lo âu. Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì? 71. Sư rằng: song chẳng hề chi. Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa. 72. Cho hay giọt nước cành dương. Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu. 73. Mấy lời tâm phúc ruột rà. Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa. 74. Đã gần chi có điều xa. Tu là cội phúc tình là dây oan. 75. Lòng còn gửi áng mây vàng. Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì! 76. Lạ gì thanh khí lẽ hằng. Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi. 77. Nghe tường ngành ngọn tiêu hao. Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành. 78. Trước sau cho vẹn một lời. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. 79. Thửa công đức ấy ai bằng. Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi? 80. Năm mây bỗng thấy chiếu trời. Nào lời non nước, nào lời sắt son. 81. Sao cho muôn dặm một nhà. Mười lăm năm mới bây giờ là đây! 82. Gió quang mây tạnh thảnh thơi. Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng. 83. Một lòng chẳng quản mấy công. Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau. 84. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai. Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa. 85. Kệ kinh câu cũ thuộc lòng. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. 86. Thấy màu ăn mặc nâu sồng. Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường. 87. Trời đông vừa rạng ngàn dâu. Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này. 88. Thiền trà cạn nước hồng mai. Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra. 89. Gác kinh viện sách đôi nơi. Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng. 90. Được lời như mở tấc son. Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. 91. Thương nhau xin nhớ lời nhau. Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? 92. Huệ lan sực nức một nhà. Có cây trăm thước có hoa bốn mùa. 93. Chở che đùm bọc thiếu chi. Vườn xuân một thửa để bia muôn đời. 94. Khi gió gác khi trăng sân. Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì? 95. Tình sâu mong trả nghĩa dày. Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong. 96. Lấy trong ý tứ mà suy. Sao cho thoát khỏi nữ nhi thường tình. 97. Rằng trong ngọc đá vàng thau. Dạy đem pháp bảo sang hầu sư huynh. 98. Khúc đâu đầm ấm dương hòa. Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời. 99. Công tư vẹn cả hai bề. Chuyện muôn năm cũ kể chi bây giờ? 100. Gương trong chẳng chút bụi trần. Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao. 101. Trời còn để có hôm nay. Của tin gọi một chút này làm ghi. 102. Trùng sinh ân nặng bể trời. Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao! 103. Sự đời đã tắt lửa lòng. Sen vàng lãng đãng như gần như xa. 104. Những là sen ngó đào tơ. Mầu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng. 105. Mùi thiền đã bén muối dưa. Gà vừa gáy sáng, trời vừa rạng đông. 106. Nhớ lời lập một am mây. Ở trong dường có hương bay ít nhiều. 107. Gửi thân được chốn am mây. Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời. 108. Bây giờ tình mới tỏ tình. Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong. 109. Chở che đùm bọc thiếu chi. Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai. |
|
110. Tình xưa ơn trả nghĩa đền. Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông. 111. Bởi lòng tạc đá ghi vàng. Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao. 112. Cửa trời rộng mở đường mây. Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm. 113. Vội về sửa chốn vườn hoa. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. 114. Nạn xưa trút sạch làu làu. Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy? 115. Bốn bề bát ngát mênh mông. Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng. 116. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề. Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa. 117. Đã nguyền hai chữ đồng tâm. Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen. 118. Độ sinh nhờ đức cao dày. Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời. 119. Rằng trong tác hợp cơ trời. Mà trong lẽ phải có người có ta! 120. Còn non còn nước còn dài. Dẫu mòn bia đá dám sai tấc lòng. 121. Trong như tiếng hạc bay qua. Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa. 122. Một lòng chẳng quản mấy công. Ở đây cửa Phật là không hẹp gì. 123. Song thu đã khép cánh ngoài. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân. 124. Vầng trăng vằng vặc giữa trời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già! 125. Thương sao cho vẹn thì thương. Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh. 126. Mấy lời tâm phúc ruột rà. Tương tri dường ấy mới là tương tri! 127. Đến bây giờ mới thấy đây. Mà lòng đã chắc những ngày một hai. 128. Nỗi mừng biết lấy chi cân. Tuyết sương che chở cho thân cát đằng. 129. Có người khách ở viễn phương. Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. 130. Cỏ non xanh tận chân trời. Nhẹ nhàng nghiệp trước đền bồi duyên sau. 131. Những là nấn ná đợi tin. Tỉnh ra mới biết là mình chiêm bao. 132. Gác kinh viện sách đôi nơi. Nào lời non nước, nào lời sắt son. 133. Chút riêng chọn đá thử vàng. Thân này đã dễ mấy lần gặp tiên? 134. Giọt rồng canh đã điểm ba. Có dung kẻ dưới mới là lượng trên. 135. Thương nhau xin nhớ lời nhau. Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi. 136. Rằng trong ngọc đá vàng thau. Cười rằng: tri kỷ trước sau mấy người! 137. Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? 138. Tấm thân rày đã nhẹ nhàng. Lòng đây lòng đấy chưa tường hay sao? 139. Cùng trong một tiếng tơ đồng. Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau. 140. Long lanh đáy nước in trời. Thấy trăng mà thẹn những lời non sông. 141. Hoàng lương chợt tỉnh giấc mai. Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.142. Lấy tình thâm trả nghĩa thâm. Nước non để chữ tương phùng kiếp sau. 143. Chắc rằng mai trúc lại vầy. Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi. 144. Dưới đèn sẵn bức tiên hoa. Một mầu quan tái bốn mùa gió trăng. 145. Nghĩ đi nghĩ lại quanh co. Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. 146. Tình sâu mong trả nghĩa dầy. Chọn người tri kỷ một ngày được chăng? 147. Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi. Tấm riêng riêng những nặng vì nước non. 148. Bấy lâu khăng khít giải đồng. Biển trầm luân lấp cho bằng mới thôi. 149. Khi gió gác khi trăng sân. Hoa xuân đương nhị ngày xuân còn dài. 150. Đêm xuân một giấc mơ màng. Làm chi lỡ nhịp cho đàn ngang cung. 151. Thương vì hạnh trọng vì tài. Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm. 152. Công tư hai lẽ đều xong. Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia. 153. Được lời như thế là may. Cành kia chẳng phải cội này mà ra? 154. Thân ta ta phải lo âu. Bỗng đâu mua não chuốc sầu nghĩ nao? 155. Chở che đùm bọc thiếu chi. Năm nay là một, nữa thì năm năm. 156. Phím đàn dìu dặt tay tiên. Hoa nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi. 157. Thiện căn ở tại lòng ta. Tương tri dường ấy mới là tương tri. 158. Gương trong chẳng chút bụi trần. Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng. 159. Kệ kinh câu cũ thuộc lòng. Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau. 160. Một nhà sum hợp sớm trưa. Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm. 161. Bốn bề bát ngát mênh mông. Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi? 162. Đội trời đạp đất ở đời. Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng. 163. Độ sinh nhờ đức cao dày. Cành kia chẳng phải cội này mà ra? 164. Chở che đùm bọc thiếu chi. Tấm riêng riêng những nặng vì nước non. 165. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai. Rằng không thì cũng vâng lời rằng không. 166. Lòng riêng riêng những kính yêu. Những điều vàng đá phải điều nói không. 167. Cửa thiền then nhặt lưới mau. Dạy đem pháp bảo sang hầu sư huynh. 168. Cho hay giọt nước cành dương. Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư. 169. Gác kinh viện sách đôi nơi. Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. 170. Nâu sồng từ trở màu thiền. Dạn dày cho biết gan liền tướng quân. 171. Tình xưa ân trả nghĩa đền. Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu. 172. Thương sao cho vẹn thì thương. Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. 173. Thấy màu ăn mặc nâu sồng. Ở đây cửa Phật là không hẹp gì. 174. Tàng tàng trời mới bình minh. Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra. 175. Gửi thân được chốn am mây. Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương. 176. Mai cốt cách tuyết tinh thần. Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng. 177. Sư đà hái thuốc phương xa. Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang. 178. Bẻ lau vạch cỏ tìm đi. Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ. 179. Sự đời đã tắt lửa lòng. Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần. 180. Người sao hiếu nghĩa đủ đường. Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây. 181. Ấy mới gan ấy mới tài. Thong dong nối gót thư trai cùng về. 182. Dịp đâu may mắn lạ dường. Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành. 183. Dưới trăng quyên đã gọi hè. Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương. 184. Dẫu rằng sông cạn đá mòn. Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang. 185. Gọi là trả chút nghĩa người. Dẫu trong nguy hiểm dám dời ước xưa. 186. Khi nên trời cũng chiều người. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. 187. Còn nhiều hưởng thụ về lâu. Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi. 188. Non quê thuần vược bén mùi. Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông. 189. Vậy nên những chốn thong dong. Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa. 190. Khi ăn ở lúc ra vào. Mừng mừng tủi tủi xiết bao là tình. 191. Bây giờ mới rõ tăm hơi. Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. 192. Lầu mai vừa rúc còi sương. Trông ra ác đã ngậm gương non đoài. 193. Xem qua sư mới dạy qua. Ấy là tình nặng ấy là ơn sâu. 194. Lại đây xem lại cho gần. Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời. 195. Chùa đâu trông thấy nẻo xa. Có dung kẻ dưới mới là lượng trên. 196. Ở ăn thì nết cũng hay. Hẳn rằng mai có như vầy cho chăng. 197. Khi ăn ở lúc ra vào. Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy? 198. Một phen tri kỷ cùng nhau. Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì. 199. Một tay gây dựng cơ đồ. Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. 200. Ai ngờ lại họp một nhà. Một thiên tuyệt bút gọi là để sau. 201. Đường đường một đấng anh hào. Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành! 202. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề. Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân. 203. Trong tay mười vạn tinh binh. Quy sư, quy Phật tu hành bấy lâu. 204. Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra. Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu? 205. Cửa chiền vừa cữ cuối xuân. Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài. 206. Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi. Tìm hoa quá bước xem người viết kinh. 207. Nghĩ cho khi gác viết kinh. Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong. 208. Nghe lời khuyên nhủ thong dong. Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào. 209. Thấy lời thủng thỉnh như chơi. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân. 210. Gió quang mây tạnh thảnh thơi. Có người đàn việt lên chơi cửa già.
Bồ Tát Tại Gia, Bồ Tát Xuất Gia (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, bình giảng kinh Duy Ma Cật, do nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 2002 và in tại Việt Nam cũng năm 2002.
 |
Bối Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1984, tập sự xuất gia năm 2002 (18 tuổi), thọ giới Sa Di Ni |
ngày 07 tháng 07 năm 2003 (19 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Quảng Dũng, pháp tự Chân Bối Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vô Ưu (Asoka). Thọ giới thức xoa ma na năm 2005 trong đại giới đàn Cổ Pháp. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 190 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Bối Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn (thuật ngữ) Tiêu chuẩn thực tập của phái đoàn Phật giáo quốc tế Làng Mai trong chuyến thăm viếng và hành đạo tại Việt Nam năm 2007, sẽ bắt đầu từ ngày 19 tháng 02 năm 2007. Phái đoàn gồm có 50 vị xuất gia và 100 vị cư sĩ. Chương trình viếng thăm và hành đạo gồm có các thành phố Sài Gòn, Bảo Lộc, Đà Lạt, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế và Hà Nội. Ba trai đàn chẩn tế gọi là Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan sẽ được tổ chức tại các chùa Vĩnh Nghiêm, Diệu Đế và Học Viện Phật Giáo Sóc Sơn để cầu nguyện cho tất cả nạn nhân chiến tranh, không phân biệt tôn giáo và chánh kiến (xem Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn). |
 |
Bội Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1983, tập sự xuất gia năm 2005 (22 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 |
tháng 8 năm 2005 (22 tuổi) tại Chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Phúc, pháp tự Chân Bội Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 256 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Bội Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Bốn câu linh chú (phép tu) Bốn câu nói trong chánh niệm có công năng tạo dựng hạnh phúc cho mình và cho những người mình thương yêu. Câu nói thứ nhất: Anh biết em (chị, cha, mẹ v.v…) đang có mặt đó nên anh rất hạnh phúc (I know you are there and I am very happy). Câu thứ hai: Anh đang có mặt cho em đây (I am here for you). Câu thứ ba: Anh biết em đang khổ, đang có khó khăn, cho nên anh đang có mặt cho em đây (I know you suffer, that’s why I am here for you). Câu thứ tư: Anh đang khổ, em hãy giúp anh (Darling, I suffer, please help me). Muốn cho bốn câu linh chú có hiệu nghiệm, ta phải thực sự có mặt, ta phải thực sự có niệm, định và tuệ.
Bốn phép tùy niệm (pháp số) Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới.
Bốn quả (pháp số) Bốn quả vị tu tập của Làng Mai. 1. Quả an trú, tiếng Anh là peaceful dwelling. Hành giả đạt được quả này là người bắt đầu có khả năng sống an lạc trong giờ phút hiện tại. Thầy Làng Mai lấy hình ảnh một con cóc ngồi trên đĩa để minh họa cho quả vị này. Khi ta đặt một con cóc vào giữa một chiếc đĩa, nó thường không có khả năng ngồi yên trong lòng chiếc đĩa, mà luôn tìm cách nhảy ra khỏi đĩa, được gọi là “cóc tính”. Trái nghĩa với “cóc tính” là “phi cóc tính”. Đạt được quả vị an trú là đạt được trạng thái “phi cóc tính”, không còn nhảy lăng xăng nữa. 2. Quả đã về đã tới, tiếng Anh là i have arrived, i am home. Theo giáo lý Làng Mai, giây phút hiện tại chính là quê hương của chúng ta. Chúng ta thực tập sống chánh niệm, sống trong hiện tại, trở về giây phút hiện tại như đứa con đi xa được trở về ngôi nhà thân yêu, về quê hương của mình. 3. Quả Tương tức, tiếng Anh là inter-being. Là kết quả của sự thực tập vô ngã. Khi đó, hành giả thấy được tất cả mọi sự vật, hiện tượng, kể cả cái “ta” của mình đều không có tự tính riêng biệt mà nương vào nhau để biểu hiện. 4. Quả vô sinh, tiếng Anh là birthlessness. Đạt được quả vị này, hành giả thấy được bản chất không sinh không diệt, không có không không của vạn pháp và tiếp xúc được với Niết bàn ngay trong giờ phút hiện tại. Những ai đạt tới khả năng này được Bụt gọi là “Việc cần làm đã làm”.
Bông Hồng Cài Áo (sách) Một đoản văn viết về tình Mẹ của Thầy Làng Mai, xuất bản lần đầu năm 1962 tại Việt Nam, sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản rất nhiều lần bởi các chùa và các cơ sở Phật Giáo trong nước cũng như ở nước ngoài. Bản dịch tiếng Anh có tựa đề A Rose For Your Pocket. Sách này đã là nguồn cảm hứng tạo thành truyền thống Bông Hồng Cài Áo tại Việt Nam, bắt đầu bằng đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn vào năm 1962. Bông Hồng Cài Áo được xem như bông hoa đầu của sự tu chứng của Thầy, nói lên được ý thức sáng tỏ (tức là chánh niệm) về những điều kiện hạnh phúc mình đang có và cần được trân quý. Những tác phẩm đi sau như Bướm Bay Vườn Cải Hoa Vàng hay Trường Ca Avril đều là sự nối tiếp của Bông Hồng Cài Áo. Tác phẩm Phép lạ Của Sự Tỉnh Thức là tác phẩm trình bày tuệ giác này một cách hệ thống hóa. (Xem bài phỏng vấn của báo Giác Ngộ về tác phẩm Bông Hồng Cài Áo).
Bờ bên kia (thuật ngữ) Bờ giác ngộ, giải thoát, an lạc, hạnh phúc. Cũng là niết bàn. Từ Hán Việt là bỉ ngạn.
Buddha Body, Buddha Mind (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà Paralax ấn hành năm 2007, nội dung là những bài giảng trong khóa tu dành cho các nhà khoa học thần kinh não bộ và các nhà tâm lý học trị liệu trong khóa tu Khoa học Thần kinh Não Bộ được tổ chức tại Làng Mai từ ngày 20 – 26 tháng 8 năm 2006.
Buddhist Peace Work, Creating Cultures of Peace (sách) Một cuốn sách nguyên bản bằng tiếng Anh gồm nhiều tác giả trong đó có bài viết của Thầy Làng Mai với tựa đề ‘Ahimsa: The Path of Harmlessness’. Nhà Wisdom Publications xuất bản lần thứ nhất năm 1999.
Buổi họp hạnh phúc (thuật ngữ, pháp môn) Những buổi họp hàng tuần của chúng tỳ khưu, chúng sa di, chúng tiếp hiện, chúng cận sự, v.v... để xây dựng tình huynh đệ và để đi tới những cải cách hay những sinh hoạt nhằm làm gia tăng hạnh phúc trong tăng thân.
Buông bỏ và phát lộ (giới điều) Ba mươi hai giới của 250 giới khất sĩ, bốn mươi giới của 348 giới khất sĩ nữ. Vị tỳ khưu (tỳ khưu ni) nào phạm vào một trong những giới này, muốn được thanh tịnh trở lại, phải tới trình bày vật dụng hoặc ngân khoản cần được buông bỏ, giao trả cho tăng thân và sám hối trước sự có mặt của ít nhất là hai vị đại diện của tăng thân. Các phẩm vật cần buông bỏ gồm có thuốc hút, các chất ma túy, sách tiểu thuyết tình, tiểu thuyết kiếm hiệp, phim truyện, băng hình, nhạc và trò chơi điện tử của thế tục, máy vô tuyến truyền hình riêng, vàng bạc ngân khoản riêng, v.v… Buông bỏ và phát lồ, tiếng Anh là Release and Expression of Regrets Offenses, dịch từ tiếng Phạn Naihsargika Payantika, tức ni tát kỳ ba dật đề.
Búp Sen (điện đường) Một thiền đường thuộc đạo tràng Thanh Sơn, tu viện Rừng Phong.
Bụt là lá chín (thuật ngữ) Lá chín là lá đỏ, lá thắm, vì lá cây cũng chín như trái cây. Một tờ lá chín cũng đẹp như một bông hoa, nhà văn Pháp Albert Camus nói: ‘Mùa thu, mỗi chiếc lá là mỗi bông hoa’. Bụt là lá chín là một câu trong bài hát Đây là tịnh độ.
Bụt là vầng trăng mát (bài hát) Một bài hát do Thầy Làng Mai viết lời và phổ nhạc. Bụt là vầng trăng mát. Đi ngang trời thái không. Hồ tâm chúng sanh lặng. Trăng hiện bóng trong ngần.
Bước chân chánh niệm (phép tu) Xem thiền đi.
Bước chân trên thật địa (thuật ngữ) Đi trong chánh niệm, đi mà ý thức được từng bước chân, tiếp xúc với thực tại nhiệm mầu của sự sống trong mỗi bước chân. Vua Trần Thái Tông nói trong sách Khóa Hư Lục: Bộ bộ đạp trước thật địa (bước nào cũng dẫm trên đất đai của thực tại). Khác với khi đi mà không biết mình đi, đi như người mộng du.
Bước thiền hiện rõ quê hương (bài hát) Một bài hát do thầy Chân Pháp Niệm viết lời và phổ nhạc. Tôi đi từng bước nhẹ nhàng. Lòng không vương vấn như làn mây bay. Bước đi an trú phút phút giây. An nhiên tự tại lòng đầy thảnh thơi. Chung quanh chim hót vang trời. Nghe như chuông đổ nhẹ vơi cõi lòng. Ngàn hoa đua nở nơi nơi. Quê hương hiện rõ ngay trong bước thiền.
Bước Tới Thảnh Thơi (sách) Một cuốn sách về giới luật và uy nghi của các vị sa di (sa di ni) do Hội Đồng Giáo Thọ Đạo Tràng Mai Thôn biên soạn. Nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản lần đầu năm 1996, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần. Bản dịch tiếng Anh dưới tựa đề Stepping Into Freedom. Đây là sách gối đầu giường của các vị sa di và sa di ni, thay thế cho sách Sa Di Luật Nghi Yếu Lược của thiền sư Châu Hoằng, sách Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu của thầy Độc Thể, vốn là những sách giáo khoa cho sa di viết cách đây 400 năm. Sách này cũng có Quy Sơn Cảnh Sách, một bản dịch rất mới và rất dễ đọc. Mười giới sa di có giới tướng rất rõ ràng, đầy đủ, hiện đại và các thiên uy nghi cũng thế.
Bưởi (sách) Một tập truyện ngắn của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Châu Âu xuất bản lần đầu năm 1979, gồm các truyện ngắn Tùng, Bưởi và Hồng. Sau này mỗi truyện được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần ở Việt Nam và hải ngoại. Tựa đề tiếng Anh của các truyện này là The Pine Gate, The Moon Bamboo và A Lone Pink Fish. |