|
Pháp
thoại ngày 13.04.2006, Xóm Thượng, khóa tu tiếng Pháp
Sư Ông kể về chuyện
thiếu phụ Nam Xương: Chàng Trương sau bao năm chinh chiến trở
về lại được với gia đình. Để ăn mừng ngày trở về của chồng, ngày
gia đình được đoàn tụ và để cám ơn ông bà, tổ tiên đã phò hộ cho
chồng sống sót trở về cùng với gia đình, người vợ đã đi ra chợ
để mua hoa quả về cúng. Người chồng ở nhà với đứa con trai còn
nhỏ. Theo tục lệ của người Việt thì thường khi có vấn đề gì trọng
đại hay những ngày đáng nhớ thì bàn thờ tổ tiên đều được bày hoa
quả và con cái thắp hương lễ bái ông bà, tổ tiên để cám ơn hoặc
xin cho tai qua, nạn khỏi. Với truyền thống này, con cái có thể
tiếp xúc được với ông bà, tổ tiên. Trong lúc người vợ đi chợ thì
ở nhà, chàng Trương cũng lau chùi bàn thờ ông bà, đốt đèn, thắp
hương để cám ơn tổ tiên đã phù hộ cho có được ngày đoàn tụ hôm
nay. Anh nói với con: “Con lại lạy cám ơn ông bà cùng với bố đi!”.
Nhưng đứa bé đã trả lời: “Ông không phải là cha tôi, cha tôi là
người khác, cha tôi cao lớn và tối mới về!”. Nghe vậy chàng Trương
rất buồn và giận vì nghĩ rằng vợ đã phụ bạc mình trong thời gian
mình vắng nhà. Khi người vợ đem hoa quả về, trong lòng đầy hân
hoan, hạnh phúc, bày ra đĩa để cúng thì nhận thấy chàng Trương
không có vẻ gì vui mừng, mà trái lại, mặt mày lạnh nhạt và có
những cử chỉ, lời nói không dễ thương đối với mình. Người vợ cố
tìm cách hỏi lý do nhưng chàng Trương vẫn lạnh lùng không nói.
Người vợ cảm thấy tủi nhục quá nên đã bỏ nhà ra đi và tự tử chết.
Ở nhà với đứa con, buổi tối đến, đứa bé khóc đòi mẹ, anh mới thắp
đèn lên để dỗ con. Khi đèn được thắp lên thì đứa bé bỗng chỉ vào
cái bóng của anh ở trên tường và nói: “Kia kìa, bố tôi đã về rồi
kìa!”. Lúc đó anh mới chợt hiểu ra là vợ anh đã thường chỉ bóng
của mình trên tường và nói với con đấy là bố để cho đứa bé vui
và ngủ. Anh hối hận vô cùng, nhưng đã quá muộn.
Câu chuyện này đã xảy ra ở thế kỷ 16 tại Việt Nam, nhưng hiện
giờ nó vẫn còn tiếp tục xảy ra hằng ngày và khắp mọi nơi. Chỉ
vì tri giác sai lầm của mình mà mình đã tạo ra rất nhiều khổ đau
cho mình và cho người khác. Câu chuyện cho thấy, chàng Trương
đau khổ do tri giác sai lầm của mình và đã làm cho vợ đau khổ
theo, đưa đến sự tự tử, và dĩ nhiên cũng làm cho con đau khổ.
Nếu chàng Trương có thực tập câu thần chú và có thể nói được với
người vợ thì câu chuyện có lẽ đã chấm dứt với một gia đình trẻ,
đầy tình thương, hạnh phúc và niềm vui. Câu thần chú chỉ là:
“Em ơi, anh khổ lắm, nhưng anh không biết tại sao, em hãy giúp
anh!”
Và khi người vợ từ chợ trở về, nếu anh nói được câu đó và chịu
khó lắng nghe người vợ cắt nghĩa thì cả gia đình đã không đau
khổ.
Để tránh xảy ra
tình trạng bi thảm như câu chuyện của thiếu phụ Nam Xương, Sư
Ông dạy là chúng ta phải học và thực tập 4 câu thần chú:
1. Ba đang có mặt cho con đây hoặc anh đang có mặt cho em đây
2. Ba/Anh biết rằng Con/Em còn đó và Ba/Anh rất hạnh phúc.
3. Ba/ Anh biết rằng Con/Em đang đau khổ, vì vậy Ba/Anh có mặt
đây cho Con/Em.
4. Ba/Anh đang đau khổ, xin Con/Em giúp cho Ba/Anh.
Nếu ta thực sự
thương người nào thì ta phải có mặt thật sự cho người ấy. Khi
có mặt thật sự cho người mình thương thì mình sẽ có khả năng lắng
nghe cũng như có khả năng chia sẻ, nói ra những niềm đau nỗi khổ
cho người mình thương.
Hiến tặng sự có
mặt là một sự tu tập, nhận diện sự có mặt của người kia cũng là
sự tu tập. Tình thương đích thực được làm bằng năng lượng của
chánh niệm và chánh định. Nếu chúng ta quá bận rộn thì chúng ta
không thể nào có mặt cho người mình thương. Phải có thời giờ và
năng lượng chánh niệm thì chúng ta mới có thể có mặt thật sự và
thấy được sự khó khăn, nỗi khổ của người kia. Chúng ta phải bỏ
tự ái để nhờ người kia giúp mình, để giải thích cho mình nghe
tại sao người kia lại nói như vậy, lại làm như vậy để cho mình
đau khổ. Tình yêu đích thực không làm bằng sự tự ái và hãnh diện.
|